Tin Tức

Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội phải ko?Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài viết hay khác tại đây => Tin tức

Đề bài: Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.

Hướng dẫn lập dàn ý cụ thể

I. Mở bài

Bạn đang xem: Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Giới thiệu nói chung về tác phẩm và nhân vật cô Hiền:

– Vị trí: nhân vật trung tâm.

– Vai trò: kết tinh cho trị giá tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.

– Mô tả nói chung về nhân vật: Nhân vật cô Hiền được mô tả ở nhiều thời khắc lịch sử không giống nhau của dân tộc. Trải qua thời kì nhiều biến động, phẩm chất và nét đẹp của một người Hà Nội vẫn tỏa sáng, như nhất, ko hề phôi pha trong con người này.

II. Thân bài: Phân tích

– Nếp sống thanh lịch dù thời cuộc có đầy biến động.

+ Cái ăn

+ Cái ở

+ Cái mặc

– Thông minh, tỉnh táo và thức thời:

+ Năm 1956, bán một trong hai ngôi nhà cho người kháng chiến ở.

+ “Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để ko phải sống ăn bám”.

+ Xử sự với chính sách cải tạo tư sản của nhà nước.

• Chồng muốn sắm máy in => ngăn cản vì nhận rõ việc làm này sẽ vi phạm chính sách.

• Mở shop đồ lưu niệm để đảm bảo “đủ ăn” nhưng ko bóc lột bất kì người nào.

– Có đầu óc thực tiễn, sự trung thực, thẳng thắn:

+ Ko có lòng tự ái, sự tị đua, thói thời thượng, ko có cái lãng mạn hay mộng mơ viển vông.

+ Đã tính là làm, đã làm là ko quan tâm tới lời đàm tiếu của người đời => khả năng, có lập trường.

+ Đi lấy chồng: dù giao thiệp rộng nhưng chọn làm vợ một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành, siêng năng => cả Hà Nội “ngạc nhiên”.

+ Tính toán cả chuyện sinh nở sao cho hợp pháp, đảm bảo tương lai con cái.

+ Lúc cháu là cán bộ cách mệnh về chơi, chồng và con gọi là “đồng chí”, bà nhắc nhở phải gọi là “anh Khải” => biết nhìn nhận mọi việc theo đúng thực chất, thức thời nhưng ko xu thời.

+ Lúc cháu – người cách mệnh hỏi về cuộc sống mới lúc giải phóng, bà nhận xét thẳng thắn, sắc sảo, ko giấu diếm.

– Trân trọng, nâng niu, giữ giàng truyền thống văn hoá người Hà Nội:

+ Dặn dò bọn trẻ: “Là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, ko được sống tuỳ tiện, buông tuồng”

+ Coi việc giữ gìn nếp sống là một cách “tự trọng, biết xấu hổ”.

=> Là hạt bụi vàng của Hà Nội: Những hạt bụi vàng nhấp nhánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió nhưng bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng => biểu tượng của vẻ đẹp tinh tế, sức sống bất tử của văn hoá Hà Thành.

Xem xét: Các em có thể chọn thêm dẫn chứng để chứng minh.

III. Kết bài: Thẩm định về nhân vật và rực rỡ nghệ thuật

– Nhân vật cô Hiền trong “Một người Hà Nội” được soi chiếu ở nhiều thời khắc lịch sử. Mỗi thời khắc đầy biến thiên đó như thứ nước rửa ảnh làm hiện hình nổi sắc những nét đẹp bất tử: sự thanh lịch, sang trọng trong nếp sống, cách nói năng; trí thông minh, sự tỉnh táo, thức thời; đầu óc thực tiễn, trung thực, thẳng thắn…của cô.

– Đặt cô Hiền trong những biến động của lịch sử, nhà văn đã soi chiếu số phận của một dân tộc qua cuộc đời của một tư nhân:

+ Cái nhìn hiện thực mới mẻ

+ Quan niệm về con người, niềm tin vào sự bất tử của những nét đẹp văn hóa truyền thống.

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: tiếng nói cá thể hóa (lời nói của cô Hiền logic, rõ ràng trình bày sự sắc sảo, thông minh, tự tin, am tường nhân thế).

– Liên hệ ngắn gọn với “chân dung người Hà Nội” hiện nay (ý mở rộng).

Top 2 bài văn mẫu hay nhất tuyển chọn phân tích vẻ đẹp của cô Hiền

Bài số 1:

Nét đẹp của văn hóa kinh kì xưa và nay đã và đang làm rung động bao trái tim người nghệ sĩ, trở thành nguồn cảm hứng nghệ thuật của thơ văn, họa và nhạc… Nguyễn Khải cũng là một nhà văn nhiều duyên nợ với mảnh đất nghìn năm văn hiến đó. Nhà văn từng tâm tình, ông đã sống với Hà Nội qua nhiều thời đoạn, nhiều chặng đường của hiện thực non sông, “thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mỗi thế hệ…”. Đặc thù, với Nguyễn Khải, Hà Nội đẹp nhất ở những con người hào hoa, có khả năng, tinh tế trong xử sự, nhưng cũng đầy nghị lực kiên cường, thiết tha yêu Thủ đô, non sông thân yêu. Cảm nhận đó của nhà văn được trình bày tập trung trong nhân vật bà Hiền – một người Hà Nội.

Cũng như những người Hà Nội phổ biến khác, bà Hiền đã cùng Hà Nội, cùng non sông trải qua nhiều biến động thăng trầm nhưng vẫn giữ được cái cốt cách người Hà Nội, cái khả năng văn hóa của người Hà Nội. Bà sống thẳng thắn, tâm thành, giàu tự trọng. Nét đẹp của người Hà Nội đó như thực chất tự nhiên bộc lộ ngay trong chính cuộc sống đời thường của một người vợ, người mẹ.

Là người phụ nữ có nhan sắc, yêu văn học, thời con gái giao thiệp với nhiều văn nhân nghệ sĩ nhưng ko chạy theo những tình cảm lãng mạn viển vông, bà Hiền “chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, siêng năng, khiến cả Hà Nội phải ngạc nhiên”. Người ta ngạc nhiên vì nghĩ theo thói thường, còn bà Hiền ko ham lợi danh, sự tính toán. Ông giáo tiểu học – mẫu người mô phạm, khiêm nhượng – là mẫu người thích hợp với quan niệm của cô về tổ ấm gia đình – quan niệm chỉ có ở một người nghiêm túc với hôn nhân, đặt trách nhiệm “làm vợ”, “làm mẹ” lên trên mọi thú vui khác. Tình yêu của bà Hiền cũng là một tình yêu sáng suốt của người mẹ giàu tự trọng, biết nhìn xa trông rộng. Cái thời người Việt Nam thích đẻ nhiều con thì bà Hiền lại có cái quan niệm khác người – bà ko tin “trời sinh voi sinh cỏ”, nhưng cho rằng con cái phải được nuôi dạy chu đáo để chúng có thể “sống tự lập”. Trong gia đình, bà Hiền luôn là người chủ động, tự tin vì bà hiểu rõ vai trò quan trọng của người vợ, người mẹ. Trước xử sự của một người cháu đối với vợ nhưng theo bà là sự “bắt nạt quá quắt”, bà thẳng thắn phê bình và bảo: “Người phụ nữ ko là nội tướng thì cái gia đình đó cũng chả ra sao”. Trong cách dạy con, bà dạy từ những cái nhỏ nhất. Chuyện ngồi ăn, cách cầm bát, cầm đũa, múc canh… chỉ là những chuyện vặt vãnh, nhỏ nhặt đối với nhiều người. Bà Hiền thì khác, bà coi đấy là văn hóa sống, văn hóa người, hơn thế, đấy là văn hóa của người Hà Nội. Bà nhỏ nhẹ nhắc nhở: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, ko được sống tùy tiện, buông tuồng”. Cái “chuẩn” trong suy nghĩ của bà Hiền là “lòng tự trọng”. Lòng tự trọng ko cho phép con người ta sống hèn nhát, ích kỉ. Lúc được hỏi: “Cô chấp thuận cho em đi đấu tranh chứ?”. Bà Hiền trả lời: “Tao đớn đau nhưng chấp thuận vì tao ko muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Và bà cũng lại chấp nhận lúc em Dũng – đàn ông thứ hai của bà cũng muốn tiếp bước anh: “bảo nó đi tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách làm thịt chết nó”. Với bà Hiền, con người đánh phật lòng tự trọng thì chỉ còn cái chết – cái chết tâm hồn. Bà Hiền tôn trọng danh dự của con, hiểu con nên chấp nhận để con ra chiến trường nhưng bà ko che giấu nỗi đau lòng, ko vờ vui vẻ ồn ĩ. Với bà, đấy là quyết định thật khó khăn nhưng hợp pháp. Đó cũng là một quyết định của “một người Hà Nội” thiết tha yêu non sông.

Đặt tên truyện là Một người Hà Nội, có nhẽ nhà văn Nguyễn Khải như muốn khắc đậm cái khả năng, cốt cách của người Hà Nội. Người đọc trông thấy “chất Hà Nội” ở bà Hiền còn bởi cái nét văn hóa lịch lãm, sang trọng trong cách bài trí phòng khách cùa bà: vừa cổ xưa, quý phái và tinh tế, “suốt mấy chục năm ko hề thay đổi” – một ko gian hẹp nhưng lưu giữ cái hồn của mảnh đất kinh kì. Cuộc sống biến động từng ngày, khó khăn theo những thay đổi khôn lường. Lối sống của một số người Hà Nội trong thời “kinh tế thị trường” khiến người ta – nhất là với những người yêu Hà Nội, ko khỏi thất vọng (như những người nhưng nhân vật “tôi” quên đường phải hỏi thăm, anh chàng đi xe đạp, cô ca, gái anh bạn…). Nhưng với bà Hiền, ko chỉ làm ấm lòng người được bởi chính nét đẹp mang cốt cách người Hà Nội cùa mình, bà còn xua đi cái ấn tượng “hơi nghiệt” của người cháu – của người đọc bằng thái độ ung dung, tự tại, bằng sự khôn ngoan thâm thúy của trí tuệ. Bà nói về luật tự nhiên, về niềm tin: Hà Nội “thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho một thế hệ”, bà “khiêm tốn và rộng lượng”, hòa mình với cảnh sắc Hà Nội “trời rét, mưa rây tha thướt chỉ đủ làm ẩm áo chứ ko làm ướt”, bà đang lau chùi cái bát cổ để cắm hoa thủy tinh. Sự hài hòa đó là cái duyên riêng Hà Nội, nét quyến rũ cua Hà Nội khiến người xa Hà Nội phải kêu thầm “thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội”.

Tác giả gọi bà Hiền là “một hạt bụi vàng” của Hà Nội. Nói tới hạt bụi – người ta liên tưởng tới sự nhỏ nhỏ, tầm thường, ít người nào nhận thấy và cũng chẳng có trị giá gì. Nhưng là hạt bụi vàng thì dù rất nhỏ nhỏ, khiêm nhượng nhưng lại mang trị giá quí báu – là tinh túy của trị giá cuộc sống. Bao nhiêu hạt bụi vàng sẽ hợp lại thành những “ánh vàng” chói sáng. Bà Hiền là một người Hà Nội phổ biến, vô danh nhưng ở bà thấm sâu cái tinh hoa trong thực chất người Hà Nội. Những người Hà Nội như bà đã là “những hạt bụi vàng nhấp nhánh đâu đỏ ở mỗi góc phố Hà Nội”, tất cả đang “bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng”.

Văn học khắc họa lịch sử qua số phận tư nhân, trọng tâm phản ánh là con người, là đặc điểm, thực chất, cách xử sự của con người trong những tình thế lịch sử nhất mực. Một người Hà Nội là tác phẩm văn học như thế. Nhân vật trung tâm là bà Hiền với những chặng đường đời song hành cùng những biến động lớn lao của non sông. Nhà văn đã có những khám phá thâm thúy về thực chất của nhân vật trên dòng chuyển lưu của hiện thực lịch sử. Là một con người, bà Hiền luôn giữ gìn phẩm giá, nhân cách là một công dân, bà chỉ làm những gì có lợi cho non sông. Là một người Hà Nội, bà đà góp phần làm rạng rỡ thêm cái cốt cách, cái truyền thống của một Hà Nội người hùng và hào hoa – tôn thêm vẻ đẹp thanh lịch của “người Tràng An”. Chất nhân văn thâm thúy của ngòi bút Nguyễn Khải chính là ở đó.

“Muốn hiểu con người thời đại với tất cả những cái hay, cái dở của họ, nhất là muốn hiểu cách nghĩ của họ, cuộc sống ý thức của họ, phải đọc Nguyễn Khải”. Nhận xét này của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn thật xác đáng, nhất là đối với truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.

Bài số 2:

Nguyễn Khải là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm “Mùa lạc”,“Một chặng đường”,“Tầm nhìn xa”. Trước năm 1978, tác phẩm của Nguyễn Khải là cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, tốt – xấu, ta – địch. Từ năm 1978 trở về sau, tác phẩm của ông là cái nhìn trằn trọc, chiêm nghiệm, cảm nhận cái hiện thực xô bồ, lập cập, thay đổi nhưng cũng đầy hương sắc. Chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội. Nhà văn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ. Từ đó nhà văn khẳng định những trị giá nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Nhân vật bà Hiền trong tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận đó của nhà văn.

Xem thêm bài viết hay:   Kế hoạch sinh hoạt dưới cờ theo chủ đề Cách tổ chức hoạt động dưới cờ năm 2021 - 2022

Tác phẩm “Một người Hà Nội” tiêu biểu cho các tác phẩm của Nguyễn Khải sau thời kỳ 1978, vẻ đẹp của hình tượng của cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất tử của Hà thành. Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Khải đã nói lên biết bao nhiêu điều có tính triết lý về sự thay đổi của thời kì, ko gian nhưng vẻ đẹp của con người và vốn văn hóa cùng tính cách người Hà Nội mãi là trị giá ý thức ko thay đổi.

Nhân vật cô Hiền vốn xuất thân trong một gia đình giàu có, lương thiện, được dạy dỗ theo mực thước nhà quan, thời trẻ là một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, mở xalông văn học để giao lưu rộng rãi với giới văn nghệ sĩ Hà thành. Cô là con người trí thức, hiểu biết rộng, là con người có “khuôn mặt tư sản”, một cách sống rất tư sản: “Ở trong một tòa nhà rộng, tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung đền Ngọc Sơn”. Cái mặc cũng sang trọng quá: “Mùa đông ông mặc áo Ba-đờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo Măng-tô cổ lông, đi giày nhung đính hạt cườm”. Cái ăn cũng ko giống với số đông: “Bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản, và từng người ngồi đúng chỗ quy định”. Đây là một lối sống nền nếp, lịch lãm, nhìn thì cứ ngỡ là tư sản nhưng thực chất cô Hiền ko phải là tư sản bởi vì “Cô ko bóc lột người nào cả thì làm sao gọi là tư sản”. Cô làm ăn lương thiện với shop hoa giấy do chính tay tự làm và các con phụ giúp. Trong quan hệ với người làm, chủ và tớ “dựa vào nhau nhưng sống”. Tình nghĩa như người trong họ. Đây chính là vẻ đẹp của người lao động chân chính, có nhân có nghĩa.

Vẻ đẹp của cô Hiền được mô tả trong nhiều thời khắc không giống nhau của lịch sử. Nhân vật lại có những biểu thị xử sự trình bày phong cách đặc thù nhất quán.

Lúc hòa bình lập lại 1955, nhân vật “Tôi” từ kháng chiến trở về. “Hà Nội nhỏ hơn trước, vắng hơn trước”. Người thì tìm những vùng đất mới để làm ăn, sinh sống. Riêng gia đình cô Hiền vẫn ở lại Hà Nội “Họ ko thể rời xa Hà Nội, ko thể sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất khác”. Đây chính là sự gắn bó máu thịt, tình yêu của cô đối với Hà Nội. Hay sau kháng chiến chống Mỹ, mỗi bận nhân vật “tôi” từ Sài Gòn trở về Hà Nội, bà băn khoăn hỏi “Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá như thế nào, dân tình thế nào ?”. Cứ ngỡ đó chỉ là câu hỏi xã giao nhưng thực chất là chứa đựng tất cả những đau đáu, phấp phỏng và hi vọng về tương lai Hà Nội.

Nhân vật bà Hiền mang vẻ đẹp thanh lịch của người đất kinh kỳ. Đó là vẻ đẹp có trong bản thân nhân vật và được nhân vật ko ngừng ý thức vun vén. Đúng như câu ca xưa viết về con người Hà Nội:

“Chẳng thơm cũng thể hoa lài

Chẳng lịch cũng thể con người Tràng An”

Vẻ đẹp thanh lịch đó được trình bày ở cách bà nuôi dạy con, uốn nắn cho chúng từ thói quen nhỏ nhất như cách cầm bát đũa, cách múc canh, cách nói chuyện trong bữa ăn, cách đi đứng… Điều này thật khác với cách sinh hoạt của gia đình nhân vật xưng tôi “Cứ việc sục muôi, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát mắng con cái, nhồm nhoàm, hể hả, ko phải theo một quy tắc nào cả”. Với bà Hiền đây ko phải là chuyện sinh hoạt vặt vãnh nhưng là văn hóa sống, văn hóa xử sự của người Hà Nội: “Là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, ko được sống tùy tiện buông tuồng”. Bà còn nói làm người Hà Nội thì phải “biết lòng tự trọng, biết xấu hổ”. Đây ko phải là biểu thị của sự kỹ tính nhưng trình bày nét tinh tế của một người có văn hóa.

Vẻ đẹp thanh lịch đó còn trình bày qua lối sống, qua những thói quen lịch lãm rất Hà Nội. Hình như sự lịch lãm đó như dòng máu chảy trong mạch máu của bà qua bao thời kì. Thời thiếu nữ thì mở xalông văn học, lúc về già thì tĩnh tâm hưởng ngoạn cái đẹp, trang trọng giữa nhịp sống xô bồ, náo nhiệt với hình ảnh ngồi “Tỉa thủy tiên mỗi lúc xuân về”, qua ko khí căn phòng khách cổ xưa, trang trọng với “Bình phong bằng gỗ chạm… Cái sập gụ chân quỳ … Cái lư hương đời Hán”. Tất cả đều tinh tế và quý phái đậm hồn Hà Nội.

Sau chiến tranh, giữa đời thường là vẻ đẹp của một bà Hiền bình dân như bao con người khác “Áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, khăn len buộc đầu”. Nhưng điều đáng quý ở bà là quan niệm sống “Xã hội lúc nào cũng phải có một gia tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi trị giá”. Đây là một quan niệm đẹp về cái chuẩn thanh lịch. Khác với kiểu buông tuồng. Bữa tiệc thiết đãi hai anh lính từ chiến trường miền Nam trở về đã giúp tác giả nói lên được vẻ đẹp đó, đó là vẻ đẹp thanh lịch đúng chuẩn của con người Hà Nội. “Các ông mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, cổ thắt caravat, các bà lược giắt trâm cài hoa hột nhấp nhánh, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc, đeo dây đi lại uyển chuyển”. Vẻ đẹp này ko chỉ là vẻ đẹp một thời nhưng là cả một đời, nó sẽ là vẻ đẹp trầm tích văn hóa cho một thời vàng son của lịch sử.

Ngoài vẻ đẹp thanh lịch quý phái, ở bà còn toát lên vẻ đẹp của khả năng tư nhân, khả năng sống của người Hà Nội, hiểu biết, nhận thức về cuộc sống hết sức thực tiễn. Là người phụ nữ nhưng bà mạnh mẽ, chủ động, tự tin, dám là chính mình. Trong hôn nhân bà chủ động lấy một ông giáo tiểu học hiền lành siêng năng. Bà nào chọn người nào trong số đám văn nhân một thời vui chơi ? Sự kiện đó làm cả Hà Nội “ngạc nhiên”. Bà tính toán việc sinh con đẻ cái sao cho hợp lý, đảm bảo tương lai con cái. Nếu trong thời kỳ phong kiến vai trò của người phụ nữ bị xem nhẹ thì trong xã hội hôm nay, bà Hiền luôn đề cao người phụ nữ “Người phụ nữ ko là nội tướng thì cái gia đình đó cũng chả ra sao”. Bà cũng quyết định luôn cái kinh tế gia đình trong cái buổi giao thời đầy phức tạp. Ông chồng định mở tiệm máy in trong lúc nhà nước đang có ý “ko thích tư nhân làm giàu”. Bà nhanh chóng cản ngăn “Ông muốn làm ông chủ ở cái cơ chế này à?”. Đây chính là cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt của con người biết nhìn xa trông rộng.

Khả năng ở bà còn là tính thẳng thắn. Bà bộc bạch rất thẳng nhận xét của mình về cuộc sống với bao vấn đề. Theo bà “Chính phủ can thiệp quá nhiều vào việc của dân quá, nào là phải tập thể dục mỗi sáng, sinh hoạt văn nghệ mỗi tối”. Bà cũng trông thấy cái gì đó ko thích hợp trong cách nghĩ “ko thích tư nhân làm giàu”. Đây chính là thái độ nói thẳng nói thật của con người trung thực, có cái nhìn thâm thúy với thời cuộc.

Vẻ đẹp của bà Hiền còn là vẻ đẹp của một tư cách sống cao thượng, vẻ đẹp của con người Hà Nội luôn coi lòng tự trọng là thước đo phẩm giá của mình. Lòng tự trọng đó được trình bày rõ nét nhất qua câu chuyện của bà về hai người con đi quân nhân. Lúc anh Dũng xin đi quân nhân vào Nam đấu tranh, bà nói với nhân vật “tôi”: “Tao đớn đau nhưng chấp thuận, vì tao ko muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bè bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Tới lượt thằng con thứ hai lên đường bà cũng nói “Tao ko khuyến khích cũng ko ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm tuyến đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách làm thịt chết nó”. Bà muốn sự công bình như bao bà mẹ khác “Tao cũng muốn sống đồng đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì”. Là người mẹ người nào nhưng ko yêu con, ko muốn con gặp nguy nan, bất trắc nhưng ở đây bà Hiền muốn dạy con đừng bao giờ sống đớn hèn, sống bám vào sự hi sinh của người khác là sống đáng hổ thẹn. Lòng tự trọng ko cho phép con bà sống hèn nhát, ích kỷ. Ở đây bà còn hiện lên vẻ đẹp của người mẹ thời chiến có ý thức trách nhiệm với non sông với dân tộc, biết sẻ chia trước đau thương mất mát của biết bao người mẹ khác. Lòng tự trọng giúp con người ta sống có trách nhiệm với số đông. Ở bà Hiền, lòng tự trọng của tư nhân đã hòa vào lòng tự trọng của dân tộc. Đây là một cách xử sự rất nhân văn.

Bà còn là con người luôn lưu giữ những niềm tin vào cuộc sống. Dù sống trong cơn lốc thị trường làm xói mòn đi nếp sống của người Hà Nội nghìn năm văn vật nhưng nó ko làm lay chuyển được ý thức của con người luôn tin vào trị giá văn hóa vững bền của Hà Nội ko thể mất đi. Bà quan niệm rằng “Với người già, bất kể người nào, cái thời đã qua luôn là thời vàng son, mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì ko thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mọi thế hệ”. Đấy chính là niềm tin mãnh liệt vào những trị giá cựu truyền. Nhà văn còn đem hình ảnh cây si cổ thụ vào phần cuối của truyện với thái độ ngợi ca nhân vật với sự trân trọng những trị giá tâm linh. Cây si bật gốc đổ lên mái đền Ngọc Sơn nhưng nhờ vào tình yêu và niềm tin của con người nhưng nó đã sống lại. Sự sống lại cây cổ thụ là niềm sáng sủa tin tưởng của tác giả vào sự phục hồi những trị giá ý thức của Hà Nội. Những trị giá văn hóa vững bền sẽ ko mất đi, nhà văn ước ao những trị giá đó sẽ hóa thân vào hiện nay “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng nhấp nhánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió nhưng bay lên cho đất kinh kỳ lung linh chói sáng những ánh vàng”.

Làm nên thành công của tác phẩm nói chung và xây dựng nhân vật bà Hiền nói riêng là nhờ vào tiếng nói kể chuyện rực rỡ, có tính cá thể hóa. Nhà văn ít mô tả, chủ yếu là kể, kể bằng quan sát, phân tích và bình luận sắc sảo giàu ý nghĩa. Giọng điệu tường thuật mang tính từng trải, tự nhiên, trĩu nặng suy tư, giàu chất nói chung, đa thanh, mang đậm yếu tố tự truyện qua “cái tôi”, (giọng kể tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự nhiên tăng tính sống động, khách quan.)

Qua nhân vật bà Hiền, nhà văn khẳng định sức sống dai sức của các trị giá văn hóa mang nét đẹp Hà Nội. Qua đó tác giả gửi gắm niềm thiết tha giữ giàng các trị giá đó cho hôm nay và cho cả ngày mai. Từ đó chúng ta thêm yêu quý, tự hào về văn hoá, đất nuớc, con người Việt Nam trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và tiếp nối thế hệ. Nhân vật bà Hiền là “Một người Hà Nội” mãi mãi là hạt bụi vàng trong bể vàng trầm tích của văn hóa xứ sở.

Tham khảo tuyển chọn những văn mẫu hay Phân tích vẻ đẹp nhân vật cô Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục


Xem thêm chi tiết: Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Hình Ảnh về: Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Video về: Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Wiki về Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội -

Đề bài: Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.

Hướng dẫn lập dàn ý cụ thể

I. Mở bài

Bạn đang xem: Vẻ đẹp của nhân vật Hiền trong truyện ngắn Một người Hà Nội

Giới thiệu nói chung về tác phẩm và nhân vật cô Hiền:

– Vị trí: nhân vật trung tâm.

– Vai trò: kết tinh cho trị giá tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.

– Mô tả nói chung về nhân vật: Nhân vật cô Hiền được mô tả ở nhiều thời khắc lịch sử không giống nhau của dân tộc. Trải qua thời kì nhiều biến động, phẩm chất và nét đẹp của một người Hà Nội vẫn tỏa sáng, như nhất, ko hề phôi pha trong con người này.

II. Thân bài: Phân tích

– Nếp sống thanh lịch dù thời cuộc có đầy biến động.

+ Cái ăn

+ Cái ở

+ Cái mặc

– Thông minh, tỉnh táo và thức thời:

+ Năm 1956, bán một trong hai ngôi nhà cho người kháng chiến ở.

+ “Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để ko phải sống ăn bám”.

+ Xử sự với chính sách cải tạo tư sản của nhà nước.

• Chồng muốn sắm máy in => ngăn cản vì nhận rõ việc làm này sẽ vi phạm chính sách.

• Mở shop đồ lưu niệm để đảm bảo “đủ ăn” nhưng ko bóc lột bất kì người nào.

– Có đầu óc thực tiễn, sự trung thực, thẳng thắn:

+ Ko có lòng tự ái, sự tị đua, thói thời thượng, ko có cái lãng mạn hay mộng mơ viển vông.

+ Đã tính là làm, đã làm là ko quan tâm tới lời đàm tiếu của người đời => khả năng, có lập trường.

+ Đi lấy chồng: dù giao thiệp rộng nhưng chọn làm vợ một ông giáo cấp Tiểu học hiền lành, siêng năng => cả Hà Nội “ngạc nhiên”.

+ Tính toán cả chuyện sinh nở sao cho hợp pháp, đảm bảo tương lai con cái.

+ Lúc cháu là cán bộ cách mệnh về chơi, chồng và con gọi là “đồng chí”, bà nhắc nhở phải gọi là “anh Khải” => biết nhìn nhận mọi việc theo đúng thực chất, thức thời nhưng ko xu thời.

+ Lúc cháu – người cách mệnh hỏi về cuộc sống mới lúc giải phóng, bà nhận xét thẳng thắn, sắc sảo, ko giấu diếm.

– Trân trọng, nâng niu, giữ giàng truyền thống văn hoá người Hà Nội:

+ Dặn dò bọn trẻ: “Là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, ko được sống tuỳ tiện, buông tuồng”

+ Coi việc giữ gìn nếp sống là một cách “tự trọng, biết xấu hổ”.

=> Là hạt bụi vàng của Hà Nội: Những hạt bụi vàng nhấp nhánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió nhưng bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng => biểu tượng của vẻ đẹp tinh tế, sức sống bất tử của văn hoá Hà Thành.

Xem xét: Các em có thể chọn thêm dẫn chứng để chứng minh.

III. Kết bài: Thẩm định về nhân vật và rực rỡ nghệ thuật

– Nhân vật cô Hiền trong “Một người Hà Nội” được soi chiếu ở nhiều thời khắc lịch sử. Mỗi thời khắc đầy biến thiên đó như thứ nước rửa ảnh làm hiện hình nổi sắc những nét đẹp bất tử: sự thanh lịch, sang trọng trong nếp sống, cách nói năng; trí thông minh, sự tỉnh táo, thức thời; đầu óc thực tiễn, trung thực, thẳng thắn…của cô.

– Đặt cô Hiền trong những biến động của lịch sử, nhà văn đã soi chiếu số phận của một dân tộc qua cuộc đời của một tư nhân:

+ Cái nhìn hiện thực mới mẻ

+ Quan niệm về con người, niềm tin vào sự bất tử của những nét đẹp văn hóa truyền thống.

– Nghệ thuật xây dựng nhân vật: tiếng nói cá thể hóa (lời nói của cô Hiền logic, rõ ràng trình bày sự sắc sảo, thông minh, tự tin, am tường nhân thế).

– Liên hệ ngắn gọn với “chân dung người Hà Nội” hiện nay (ý mở rộng).

Top 2 bài văn mẫu hay nhất tuyển chọn phân tích vẻ đẹp của cô Hiền

Bài số 1:

Nét đẹp của văn hóa kinh kì xưa và nay đã và đang làm rung động bao trái tim người nghệ sĩ, trở thành nguồn cảm hứng nghệ thuật của thơ văn, họa và nhạc… Nguyễn Khải cũng là một nhà văn nhiều duyên nợ với mảnh đất nghìn năm văn hiến đó. Nhà văn từng tâm tình, ông đã sống với Hà Nội qua nhiều thời đoạn, nhiều chặng đường của hiện thực non sông, “thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mỗi thế hệ…”. Đặc thù, với Nguyễn Khải, Hà Nội đẹp nhất ở những con người hào hoa, có khả năng, tinh tế trong xử sự, nhưng cũng đầy nghị lực kiên cường, thiết tha yêu Thủ đô, non sông thân yêu. Cảm nhận đó của nhà văn được trình bày tập trung trong nhân vật bà Hiền – một người Hà Nội.

Cũng như những người Hà Nội phổ biến khác, bà Hiền đã cùng Hà Nội, cùng non sông trải qua nhiều biến động thăng trầm nhưng vẫn giữ được cái cốt cách người Hà Nội, cái khả năng văn hóa của người Hà Nội. Bà sống thẳng thắn, tâm thành, giàu tự trọng. Nét đẹp của người Hà Nội đó như thực chất tự nhiên bộc lộ ngay trong chính cuộc sống đời thường của một người vợ, người mẹ.

Là người phụ nữ có nhan sắc, yêu văn học, thời con gái giao thiệp với nhiều văn nhân nghệ sĩ nhưng ko chạy theo những tình cảm lãng mạn viển vông, bà Hiền “chọn bạn trăm năm là một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, siêng năng, khiến cả Hà Nội phải ngạc nhiên”. Người ta ngạc nhiên vì nghĩ theo thói thường, còn bà Hiền ko ham lợi danh, sự tính toán. Ông giáo tiểu học – mẫu người mô phạm, khiêm nhượng – là mẫu người thích hợp với quan niệm của cô về tổ ấm gia đình – quan niệm chỉ có ở một người nghiêm túc với hôn nhân, đặt trách nhiệm “làm vợ”, “làm mẹ” lên trên mọi thú vui khác. Tình yêu của bà Hiền cũng là một tình yêu sáng suốt của người mẹ giàu tự trọng, biết nhìn xa trông rộng. Cái thời người Việt Nam thích đẻ nhiều con thì bà Hiền lại có cái quan niệm khác người – bà ko tin “trời sinh voi sinh cỏ”, nhưng cho rằng con cái phải được nuôi dạy chu đáo để chúng có thể “sống tự lập”. Trong gia đình, bà Hiền luôn là người chủ động, tự tin vì bà hiểu rõ vai trò quan trọng của người vợ, người mẹ. Trước xử sự của một người cháu đối với vợ nhưng theo bà là sự “bắt nạt quá quắt”, bà thẳng thắn phê bình và bảo: “Người phụ nữ ko là nội tướng thì cái gia đình đó cũng chả ra sao”. Trong cách dạy con, bà dạy từ những cái nhỏ nhất. Chuyện ngồi ăn, cách cầm bát, cầm đũa, múc canh… chỉ là những chuyện vặt vãnh, nhỏ nhặt đối với nhiều người. Bà Hiền thì khác, bà coi đấy là văn hóa sống, văn hóa người, hơn thế, đấy là văn hóa của người Hà Nội. Bà nhỏ nhẹ nhắc nhở: “Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, ko được sống tùy tiện, buông tuồng”. Cái “chuẩn” trong suy nghĩ của bà Hiền là “lòng tự trọng”. Lòng tự trọng ko cho phép con người ta sống hèn nhát, ích kỉ. Lúc được hỏi: “Cô chấp thuận cho em đi đấu tranh chứ?”. Bà Hiền trả lời: “Tao đớn đau nhưng chấp thuận vì tao ko muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Và bà cũng lại chấp nhận lúc em Dũng – đàn ông thứ hai của bà cũng muốn tiếp bước anh: “bảo nó đi tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách làm thịt chết nó”. Với bà Hiền, con người đánh phật lòng tự trọng thì chỉ còn cái chết – cái chết tâm hồn. Bà Hiền tôn trọng danh dự của con, hiểu con nên chấp nhận để con ra chiến trường nhưng bà ko che giấu nỗi đau lòng, ko vờ vui vẻ ồn ĩ. Với bà, đấy là quyết định thật khó khăn nhưng hợp pháp. Đó cũng là một quyết định của “một người Hà Nội” thiết tha yêu non sông.

Đặt tên truyện là Một người Hà Nội, có nhẽ nhà văn Nguyễn Khải như muốn khắc đậm cái khả năng, cốt cách của người Hà Nội. Người đọc trông thấy “chất Hà Nội” ở bà Hiền còn bởi cái nét văn hóa lịch lãm, sang trọng trong cách bài trí phòng khách cùa bà: vừa cổ xưa, quý phái và tinh tế, “suốt mấy chục năm ko hề thay đổi” – một ko gian hẹp nhưng lưu giữ cái hồn của mảnh đất kinh kì. Cuộc sống biến động từng ngày, khó khăn theo những thay đổi khôn lường. Lối sống của một số người Hà Nội trong thời “kinh tế thị trường” khiến người ta – nhất là với những người yêu Hà Nội, ko khỏi thất vọng (như những người nhưng nhân vật “tôi” quên đường phải hỏi thăm, anh chàng đi xe đạp, cô ca, gái anh bạn…). Nhưng với bà Hiền, ko chỉ làm ấm lòng người được bởi chính nét đẹp mang cốt cách người Hà Nội cùa mình, bà còn xua đi cái ấn tượng “hơi nghiệt” của người cháu – của người đọc bằng thái độ ung dung, tự tại, bằng sự khôn ngoan thâm thúy của trí tuệ. Bà nói về luật tự nhiên, về niềm tin: Hà Nội “thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho một thế hệ”, bà “khiêm tốn và rộng lượng”, hòa mình với cảnh sắc Hà Nội “trời rét, mưa rây tha thướt chỉ đủ làm ẩm áo chứ ko làm ướt”, bà đang lau chùi cái bát cổ để cắm hoa thủy tinh. Sự hài hòa đó là cái duyên riêng Hà Nội, nét quyến rũ cua Hà Nội khiến người xa Hà Nội phải kêu thầm “thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội”.

Tác giả gọi bà Hiền là “một hạt bụi vàng” của Hà Nội. Nói tới hạt bụi – người ta liên tưởng tới sự nhỏ nhỏ, tầm thường, ít người nào nhận thấy và cũng chẳng có trị giá gì. Nhưng là hạt bụi vàng thì dù rất nhỏ nhỏ, khiêm nhượng nhưng lại mang trị giá quí báu – là tinh túy của trị giá cuộc sống. Bao nhiêu hạt bụi vàng sẽ hợp lại thành những “ánh vàng” chói sáng. Bà Hiền là một người Hà Nội phổ biến, vô danh nhưng ở bà thấm sâu cái tinh hoa trong thực chất người Hà Nội. Những người Hà Nội như bà đã là “những hạt bụi vàng nhấp nhánh đâu đỏ ở mỗi góc phố Hà Nội”, tất cả đang “bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng”.

Văn học khắc họa lịch sử qua số phận tư nhân, trọng tâm phản ánh là con người, là đặc điểm, thực chất, cách xử sự của con người trong những tình thế lịch sử nhất mực. Một người Hà Nội là tác phẩm văn học như thế. Nhân vật trung tâm là bà Hiền với những chặng đường đời song hành cùng những biến động lớn lao của non sông. Nhà văn đã có những khám phá thâm thúy về thực chất của nhân vật trên dòng chuyển lưu của hiện thực lịch sử. Là một con người, bà Hiền luôn giữ gìn phẩm giá, nhân cách là một công dân, bà chỉ làm những gì có lợi cho non sông. Là một người Hà Nội, bà đà góp phần làm rạng rỡ thêm cái cốt cách, cái truyền thống của một Hà Nội người hùng và hào hoa – tôn thêm vẻ đẹp thanh lịch của “người Tràng An”. Chất nhân văn thâm thúy của ngòi bút Nguyễn Khải chính là ở đó.

“Muốn hiểu con người thời đại với tất cả những cái hay, cái dở của họ, nhất là muốn hiểu cách nghĩ của họ, cuộc sống ý thức của họ, phải đọc Nguyễn Khải”. Nhận xét này của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn thật xác đáng, nhất là đối với truyện ngắn Một người Hà Nội của Nguyễn Khải.

Bài số 2:

Nguyễn Khải là nhà văn nổi tiếng với những tác phẩm “Mùa lạc”,“Một chặng đường”,“Tầm nhìn xa”. Trước năm 1978, tác phẩm của Nguyễn Khải là cái nhìn tỉnh táo, sắc lạnh, luôn khai thác hiện thực trong thế xung đột, đối lập cũ – mới, tốt – xấu, ta – địch. Từ năm 1978 trở về sau, tác phẩm của ông là cái nhìn trằn trọc, chiêm nghiệm, cảm nhận cái hiện thực xô bồ, lập cập, thay đổi nhưng cũng đầy hương sắc. Chuyển mạnh từ hướng ngoại sang hướng nội. Nhà văn nhìn con người trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, quá khứ dân tộc, gia đình và sự tiếp nối thế hệ. Từ đó nhà văn khẳng định những trị giá nhân văn cao đẹp của cuộc sống và con người hôm nay. Nhân vật bà Hiền trong tác phẩm tiêu biểu cho hướng tiếp cận đó của nhà văn.

Tác phẩm “Một người Hà Nội” tiêu biểu cho các tác phẩm của Nguyễn Khải sau thời kỳ 1978, vẻ đẹp của hình tượng của cô Hiền tiêu biểu cho nét đẹp và sức sống bất tử của Hà thành. Qua nhân vật này, nhà văn Nguyễn Khải đã nói lên biết bao nhiêu điều có tính triết lý về sự thay đổi của thời kì, ko gian nhưng vẻ đẹp của con người và vốn văn hóa cùng tính cách người Hà Nội mãi là trị giá ý thức ko thay đổi.

Nhân vật cô Hiền vốn xuất thân trong một gia đình giàu có, lương thiện, được dạy dỗ theo mực thước nhà quan, thời trẻ là một thiếu nữ xinh đẹp, thông minh, mở xalông văn học để giao lưu rộng rãi với giới văn nghệ sĩ Hà thành. Cô là con người trí thức, hiểu biết rộng, là con người có “khuôn mặt tư sản”, một cách sống rất tư sản: “Ở trong một tòa nhà rộng, tọa lạc ngay tại một đường phố lớn, hướng nhà nhìn thẳng ra cây si cổ thụ và hậu cung đền Ngọc Sơn”. Cái mặc cũng sang trọng quá: “Mùa đông ông mặc áo Ba-đờ-xuy, đi giày da, bà mặc áo Măng-tô cổ lông, đi giày nhung đính hạt cườm”. Cái ăn cũng ko giống với số đông: “Bàn ăn trải khăn trắng, giữa bàn có một lọ hoa nhỏ, bát úp trên đĩa, đũa bọc trong giấy bản, và từng người ngồi đúng chỗ quy định”. Đây là một lối sống nền nếp, lịch lãm, nhìn thì cứ ngỡ là tư sản nhưng thực chất cô Hiền ko phải là tư sản bởi vì “Cô ko bóc lột người nào cả thì làm sao gọi là tư sản”. Cô làm ăn lương thiện với shop hoa giấy do chính tay tự làm và các con phụ giúp. Trong quan hệ với người làm, chủ và tớ “dựa vào nhau nhưng sống”. Tình nghĩa như người trong họ. Đây chính là vẻ đẹp của người lao động chân chính, có nhân có nghĩa.

Vẻ đẹp của cô Hiền được mô tả trong nhiều thời khắc không giống nhau của lịch sử. Nhân vật lại có những biểu thị xử sự trình bày phong cách đặc thù nhất quán.

Lúc hòa bình lập lại 1955, nhân vật “Tôi” từ kháng chiến trở về. “Hà Nội nhỏ hơn trước, vắng hơn trước”. Người thì tìm những vùng đất mới để làm ăn, sinh sống. Riêng gia đình cô Hiền vẫn ở lại Hà Nội “Họ ko thể rời xa Hà Nội, ko thể sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất khác”. Đây chính là sự gắn bó máu thịt, tình yêu của cô đối với Hà Nội. Hay sau kháng chiến chống Mỹ, mỗi bận nhân vật “tôi” từ Sài Gòn trở về Hà Nội, bà băn khoăn hỏi “Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá như thế nào, dân tình thế nào ?”. Cứ ngỡ đó chỉ là câu hỏi xã giao nhưng thực chất là chứa đựng tất cả những đau đáu, phấp phỏng và hi vọng về tương lai Hà Nội.

Nhân vật bà Hiền mang vẻ đẹp thanh lịch của người đất kinh kỳ. Đó là vẻ đẹp có trong bản thân nhân vật và được nhân vật ko ngừng ý thức vun vén. Đúng như câu ca xưa viết về con người Hà Nội:

“Chẳng thơm cũng thể hoa lài

Chẳng lịch cũng thể con người Tràng An”

Vẻ đẹp thanh lịch đó được trình bày ở cách bà nuôi dạy con, uốn nắn cho chúng từ thói quen nhỏ nhất như cách cầm bát đũa, cách múc canh, cách nói chuyện trong bữa ăn, cách đi đứng… Điều này thật khác với cách sinh hoạt của gia đình nhân vật xưng tôi “Cứ việc sục muôi, sục đũa vào, vừa ăn vừa quát mắng con cái, nhồm nhoàm, hể hả, ko phải theo một quy tắc nào cả”. Với bà Hiền đây ko phải là chuyện sinh hoạt vặt vãnh nhưng là văn hóa sống, văn hóa xử sự của người Hà Nội: “Là người Hà Nội thì cách đi đứng nói năng phải có chuẩn, ko được sống tùy tiện buông tuồng”. Bà còn nói làm người Hà Nội thì phải “biết lòng tự trọng, biết xấu hổ”. Đây ko phải là biểu thị của sự kỹ tính nhưng trình bày nét tinh tế của một người có văn hóa.

Vẻ đẹp thanh lịch đó còn trình bày qua lối sống, qua những thói quen lịch lãm rất Hà Nội. Hình như sự lịch lãm đó như dòng máu chảy trong mạch máu của bà qua bao thời kì. Thời thiếu nữ thì mở xalông văn học, lúc về già thì tĩnh tâm hưởng ngoạn cái đẹp, trang trọng giữa nhịp sống xô bồ, náo nhiệt với hình ảnh ngồi “Tỉa thủy tiên mỗi lúc xuân về”, qua ko khí căn phòng khách cổ xưa, trang trọng với “Bình phong bằng gỗ chạm… Cái sập gụ chân quỳ … Cái lư hương đời Hán”. Tất cả đều tinh tế và quý phái đậm hồn Hà Nội.

Sau chiến tranh, giữa đời thường là vẻ đẹp của một bà Hiền bình dân như bao con người khác “Áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, khăn len buộc đầu”. Nhưng điều đáng quý ở bà là quan niệm sống “Xã hội lúc nào cũng phải có một gia tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi trị giá”. Đây là một quan niệm đẹp về cái chuẩn thanh lịch. Khác với kiểu buông tuồng. Bữa tiệc thiết đãi hai anh lính từ chiến trường miền Nam trở về đã giúp tác giả nói lên được vẻ đẹp đó, đó là vẻ đẹp thanh lịch đúng chuẩn của con người Hà Nội. “Các ông mũ dạ, áo ba-đờ-xuy, cổ thắt caravat, các bà lược giắt trâm cài hoa hột nhấp nhánh, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc, đeo dây đi lại uyển chuyển”. Vẻ đẹp này ko chỉ là vẻ đẹp một thời nhưng là cả một đời, nó sẽ là vẻ đẹp trầm tích văn hóa cho một thời vàng son của lịch sử.

Ngoài vẻ đẹp thanh lịch quý phái, ở bà còn toát lên vẻ đẹp của khả năng tư nhân, khả năng sống của người Hà Nội, hiểu biết, nhận thức về cuộc sống hết sức thực tiễn. Là người phụ nữ nhưng bà mạnh mẽ, chủ động, tự tin, dám là chính mình. Trong hôn nhân bà chủ động lấy một ông giáo tiểu học hiền lành siêng năng. Bà nào chọn người nào trong số đám văn nhân một thời vui chơi ? Sự kiện đó làm cả Hà Nội “ngạc nhiên”. Bà tính toán việc sinh con đẻ cái sao cho hợp lý, đảm bảo tương lai con cái. Nếu trong thời kỳ phong kiến vai trò của người phụ nữ bị xem nhẹ thì trong xã hội hôm nay, bà Hiền luôn đề cao người phụ nữ “Người phụ nữ ko là nội tướng thì cái gia đình đó cũng chả ra sao”. Bà cũng quyết định luôn cái kinh tế gia đình trong cái buổi giao thời đầy phức tạp. Ông chồng định mở tiệm máy in trong lúc nhà nước đang có ý “ko thích tư nhân làm giàu”. Bà nhanh chóng cản ngăn “Ông muốn làm ông chủ ở cái cơ chế này à?”. Đây chính là cái nhìn tỉnh táo, sáng suốt của con người biết nhìn xa trông rộng.

Khả năng ở bà còn là tính thẳng thắn. Bà bộc bạch rất thẳng nhận xét của mình về cuộc sống với bao vấn đề. Theo bà “Chính phủ can thiệp quá nhiều vào việc của dân quá, nào là phải tập thể dục mỗi sáng, sinh hoạt văn nghệ mỗi tối”. Bà cũng trông thấy cái gì đó ko thích hợp trong cách nghĩ “ko thích tư nhân làm giàu”. Đây chính là thái độ nói thẳng nói thật của con người trung thực, có cái nhìn thâm thúy với thời cuộc.

Vẻ đẹp của bà Hiền còn là vẻ đẹp của một tư cách sống cao thượng, vẻ đẹp của con người Hà Nội luôn coi lòng tự trọng là thước đo phẩm giá của mình. Lòng tự trọng đó được trình bày rõ nét nhất qua câu chuyện của bà về hai người con đi quân nhân. Lúc anh Dũng xin đi quân nhân vào Nam đấu tranh, bà nói với nhân vật “tôi”: “Tao đớn đau nhưng chấp thuận, vì tao ko muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bè bạn. Nó dám đi cũng là biết tự trọng”. Tới lượt thằng con thứ hai lên đường bà cũng nói “Tao ko khuyến khích cũng ko ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm tuyến đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách làm thịt chết nó”. Bà muốn sự công bình như bao bà mẹ khác “Tao cũng muốn sống đồng đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì”. Là người mẹ người nào nhưng ko yêu con, ko muốn con gặp nguy nan, bất trắc nhưng ở đây bà Hiền muốn dạy con đừng bao giờ sống đớn hèn, sống bám vào sự hi sinh của người khác là sống đáng hổ thẹn. Lòng tự trọng ko cho phép con bà sống hèn nhát, ích kỷ. Ở đây bà còn hiện lên vẻ đẹp của người mẹ thời chiến có ý thức trách nhiệm với non sông với dân tộc, biết sẻ chia trước đau thương mất mát của biết bao người mẹ khác. Lòng tự trọng giúp con người ta sống có trách nhiệm với số đông. Ở bà Hiền, lòng tự trọng của tư nhân đã hòa vào lòng tự trọng của dân tộc. Đây là một cách xử sự rất nhân văn.

Bà còn là con người luôn lưu giữ những niềm tin vào cuộc sống. Dù sống trong cơn lốc thị trường làm xói mòn đi nếp sống của người Hà Nội nghìn năm văn vật nhưng nó ko làm lay chuyển được ý thức của con người luôn tin vào trị giá văn hóa vững bền của Hà Nội ko thể mất đi. Bà quan niệm rằng “Với người già, bất kể người nào, cái thời đã qua luôn là thời vàng son, mỗi thế hệ đều có thời vàng son của họ. Hà Nội thì ko thế. Thời nào nó cũng đẹp, một vẻ đẹp riêng cho mọi thế hệ”. Đấy chính là niềm tin mãnh liệt vào những trị giá cựu truyền. Nhà văn còn đem hình ảnh cây si cổ thụ vào phần cuối của truyện với thái độ ngợi ca nhân vật với sự trân trọng những trị giá tâm linh. Cây si bật gốc đổ lên mái đền Ngọc Sơn nhưng nhờ vào tình yêu và niềm tin của con người nhưng nó đã sống lại. Sự sống lại cây cổ thụ là niềm sáng sủa tin tưởng của tác giả vào sự phục hồi những trị giá ý thức của Hà Nội. Những trị giá văn hóa vững bền sẽ ko mất đi, nhà văn ước ao những trị giá đó sẽ hóa thân vào hiện nay “Một người như cô phải chết đi thật tiếc, một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng nhấp nhánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió nhưng bay lên cho đất kinh kỳ lung linh chói sáng những ánh vàng”.

Làm nên thành công của tác phẩm nói chung và xây dựng nhân vật bà Hiền nói riêng là nhờ vào tiếng nói kể chuyện rực rỡ, có tính cá thể hóa. Nhà văn ít mô tả, chủ yếu là kể, kể bằng quan sát, phân tích và bình luận sắc sảo giàu ý nghĩa. Giọng điệu tường thuật mang tính từng trải, tự nhiên, trĩu nặng suy tư, giàu chất nói chung, đa thanh, mang đậm yếu tố tự truyện qua “cái tôi”, (giọng kể tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự nhiên tăng tính sống động, khách quan.)

Qua nhân vật bà Hiền, nhà văn khẳng định sức sống dai sức của các trị giá văn hóa mang nét đẹp Hà Nội. Qua đó tác giả gửi gắm niềm thiết tha giữ giàng các trị giá đó cho hôm nay và cho cả ngày mai. Từ đó chúng ta thêm yêu quý, tự hào về văn hoá, đất nuớc, con người Việt Nam trong mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử, với quá khứ dân tộc, với quan hệ gia đình và tiếp nối thế hệ. Nhân vật bà Hiền là “Một người Hà Nội” mãi mãi là hạt bụi vàng trong bể vàng trầm tích của văn hóa xứ sở.

Tham khảo tuyển chọn những văn mẫu hay Phân tích vẻ đẹp nhân vật cô Hiền trong tác phẩm Một người Hà Nội của nhà văn Nguyễn Khải.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục

[rule_{ruleNumber}]

#Vẻ #đẹp #của #nhân #vật #Hiền #trong #truyện #ngắn #Một #người #Hà #Nội

[rule_3_plain]

#Vẻ #đẹp #của #nhân #vật #Hiền #trong #truyện #ngắn #Một #người #Hà #Nội

[rule_1_plain]

#Vẻ #đẹp #của #nhân #vật #Hiền #trong #truyện #ngắn #Một #người #Hà #Nội

[rule_2_plain]

#Vẻ #đẹp #của #nhân #vật #Hiền #trong #truyện #ngắn #Một #người #Hà #Nội

[rule_2_plain]

#Vẻ #đẹp #của #nhân #vật #Hiền #trong #truyện #ngắn #Một #người #Hà #Nội

[rule_3_plain]

#Vẻ #đẹp #của #nhân #vật #Hiền #trong #truyện #ngắn #Một #người #Hà #Nội

[rule_1_plain]

Nguồn:chinphu.vn
Phân mục: Tin tức

#Vẻ #đẹp #của #nhân #vật #Hiền #trong #truyện #ngắn #Một #người #Hà #Nội

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button