Tin Tức

Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM phải ko?Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài viết hay khác tại đây => Tin tức

Ý nghĩa chữ “TÂM” trong “Thư pháp” và “Phật giáo”

Văn hoá Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng thì chữ “Tâm” đã trở thành rất đỗi thân yêu và bình dị, càng bình dị hơn lúc nó chứa đựng trong mình những ý nghĩa hết sức to lớn. Với một chữ “Tâm” thôi cũng đã hao tổn ko biết bao nhiêu giấy mực, được đàm đạo trong nhiều thời kì và tới thời nay nó vẫn là đề tài được bàn luận sôi nổi. Bao đời nay thì Chữ TÂM luôn được coi trọng và đề cao bởi “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Ý nghĩa chung của chữ “Tâm”

Chữ “tâm “theo nhiều trường phái triết học và tôn giáo sẽ có những ý nghĩa riêng nhưng quy tụ chung về những đặc điểm sau:

Lúc nhắc tới “tâm” là nhắc tới trái tim, lòng dạ, lương tâm con người. Mọi hành động của con người đều xuất phát từ cái tâm, tâm thiện thì suy nghĩ và hành động đúng đạo lí, lẽ phải; tâm ko lành thì sẽ sinh tà ý và làm nhiều điều xấu xa, tội vạ.

Xem thêm bài viết hay:   Kể lại một buổi sinh hoạt lớp em - Văn mẫu 5

Bạn đang xem: Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Chữ “tâm” thường được dùng để hướng suy nghĩ của con người tới cái thiện, tu thân, dưỡng tính, sống tích cực và làm nhiều điều tốt lành. Tâm sai lệch thì cuộc sống điên đảo điên đảo. Tâm gian dối thì cuộc sống bất an. Tâm ghen tuông ghét thì cuộc sống hận thù. Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui. Tâm tham lam thì cuộc sống gian sảo.

Vậy nên hãy để tâm của mình đặt lên ngực để mến thương, đặt lên tay để hỗ trợ người khác, lên mắt để thấy được nỗi khổ của tha nhân, lên chân để may mắn chạy tới với người cùng khổ, lên mồm để nói lời xoa dịu với người xấu số, lên tai để nghe lời góp ý của người khác, lên vai để chịu trách nhiệm…

Ý nghĩa chữ tâm trong phật giáo

Khái niệm “tâm” của Phật Giáo ko đơn giản như các học giả phương Tây lầm tưởng. Tâm được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật Giáo. Kinh Pháp Cú, vốn được xem như Kinh Thánh của Phật Giáo mở đầu như sau: “Tâm dẫn đầu các pháp. Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả”. Một cách nói chung, qua các kinh điển Phật Giáo  người ta có thể phân biệt sáu loại tâm:

Ý nghĩa chữ tâm trong phật giáo

Nhục đoàn tâm (肉團心)

trái tim thịt (Phật Giáo ko quan tâm nhiều tới nghĩa này). Ví dụ: “Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời dèm pha phá huỷ Phật giái, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình” (Bồ Tát Giái Kinh).

Tinh yếu tâm (精要心)

Chỗ kín mật, chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ. Ví dụ: “Phật pháp lấy tâm làm gốc, lấy thân và khẩu làm ngọn” (Long Thọ Bồ Tát).

Kiên tình thực (堅實心)

Là cái tâm ko hư vọng, cũng gọi là chân tâm. Chỉ cái tuyệt đối, cái mầm mống tỉnh ngộ vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, đó là Phật tính: “Cơ bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm. Cơ bản của bồ đề niết bàn là chân tâm” (Kinh Thủ Lăng Nghiêm).

Liễu biệt tâm (了別心) [3]

Gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức , tức là tri thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của nó là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an dù tình cảnh nào cũng an”.

Tư lượng tâm (思量心) còn gọi là Mạt-na thức (末那識)

Thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các tính năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ tám (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy nhưng tạo ra chấp ngã, là bản ngã, cái tôi của con người (ego-consciousness). Thực chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác với thức thứ sáu. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực nhưng người ta ko thể điều khiển một cách có chủ ý, thường phát sinh những tranh chấp của những quyết định tiềm thức và ko ngừng chấp dính vào bản ngã: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức” (Du-già sư địa luận)

Tập khởi tâm (集起心) còn gọi là A-lại-da thức (阿賴耶識) dịch tức là tạng thức (藏識)

Chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và xuất xứ tất cả các hiện tượng ý thức. Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình. Tâm lý học phương Tây thường gọi thức này là vô thức hay tiềm thức: “Nhất quyết thế gian trung. Mặc bất tùng tâm tạo: Tất cả những gì trong thế gian. Đều là do tâm tạo” (Kinh Hoa Nghiêm)

Phật Giáo ko quan niệm tâm là một cái gì thuần nhất, giản đơn theo kiểu như khái niệm vong linh. Theo Ngũ uẩn, tâm ko phải chỉ là một cục hay một khối cứng nhắc, nhưng là một luồng tư tưởng, một chuỗi dài tư tưởng, có sinh có diệt (khác quan niệm “hồn thiêng bất tử”), có năng lực (nghiệp lực) được chuyển từ luồng này sang luồng khác. Cái luồng tâm này với những nghiệp lực là cơ bản cho sự tái sinh.

Theo Vi Diệu pháp, tâm ko phải là một cá thể, nhưng là một dòng tiềm thức gồm nhiều loại tâm khởi lên rồi diệt. Lúc con người còn sống thì dòng tiềm thức lặng lẽ trôi chảy trong ngũ uẩn, nếu ko có một tâm nào khác khởi lên. Lúc chết, dòng tiềm thức cuối cùng của kiếp này trở thành dòng tiềm thức trước hết của kiếp sau. Duy Thức học triển khai thêm tiềm thức là cái biết, cơ bản là tạng thức, chứa đựng các loại chủng tử …

Tóm lại, dù nhìn dưới khía cạnh nào, có thể nói theo Thiền Tông: Có hai thứ tâm. Một thứ là tâm theo dòng tiềm thức, khởi lên rồi diệt, vì ngũ uẩn bị mê mờ bởi tham ái, dục lạc, vọng tưởng; tâm này được gọi là Vọng tâm là tâm của chúng sinh. Hai là Chân tâm có tự tính là thanh tịnh, ko sinh diệt, ko dao động, thường vắng lặng, là tính giác của những vị đã tỉnh ngộ, cũng còn được gọi là Tâm Phật.

Hai câu kinh đầu Phật dạy là: Tâm dẫn đầu các pháp 

Chữ tâm trong thư pháp

Ý nghĩa chữ “Tâm” ở thư pháp chữ tâm đã được nói ra ở 2 phần trên và ngoài ra còn trình bày được trị giá và tầm quan trọng của của chữ tâm hơn bằng những nét cọ mạnh mẽ, uyển chuyển, đầy sức tạo hình, gợi ý đóng vào những khung tranh tươm tất, chỉnh chu và luôn đặt ở những vị trí quan trọng nhất trong nhà và thường làm quà để tặng cho bè bạn nhằm khuyên răn nhau giữ đúng cái Tâm là giữ đúng thực chất của một con người đúng nghĩa.

Chữ tâm trong thư pháp

Thư pháp chữ tâm có thể viết bằng tiếng Hán hoặc chữ quốc ngữ trên nhiều chất liệu không giống nhau, làm mới và tạo hình thông minh tùy ý muốn của chủ sở hữu hoặc ý tưởng của ông đồ. Ngoài ra, đi kèm với thư pháp chữ tâm còn có thể có những thư phổ phụ đề như:

Thư pháp chữ tâm có thể viết bằng tiếng Hán hoặc chữ quốc ngữ trên nhiều chất liệu không giống nhau, làm mới và tạo hình thông minh tùy ý muốn của chủ sở hữu hoặc ý tưởng của ông đồ. Ngoài ra, đi kèm với thư pháp chữ tâm còn có thể có những thư phổ phụ đề như:

Chữ Tâm tiếng Hán

Tâm trong chữ Hán có 2 cách viết và 2 nghĩa

1. Tâm mang ý tức là tim (trái tim), tình cảm của con người, lòng dạ, điểm chính giữa như tâm tạng, tâm thất, tâm phúc, tâm phục, tâm ý, đồng tâm, trọng tâm, trung tâm, viên tâm…

-Tên một ngôi sao là sao Tâm trong nhị thập bát cú tức là sao hỏa.

– Tên một bộ chữ Hán là bộ Tâm.

2. Tâm mang ý nghĩa tâm lý và đạo đức : tính nết, tâm tưởng, tâm ý, lương tâm

-Tượng trưng cho tình cảm, tình yêu .

-Suy nghĩ và cảm giác, nhận thức sự vật : tâm trí,

-Các hiện tượng tâm lý : tâm trạng, thần kinh, tâm lý.

– Phần linh thiên của con người đối lập với thể xác như  tâm linh, tâm hồn…

Chữ Tâm trong kinh doanh

Chữ Tâm trong lĩnh vực kinh doanh là đạo đức trong kinh doanh. Người chủ kinh doanh có tâm ko dùng thủ đoạn thấp kém, tôn trọng pháp luật, bảo vệ người tiêu dùng. Thực chất làm ăn kinh doanh là làm ra nhiều tiền, làm giàu dẫn tới 2 trường hợp làm giàu hợp pháp và trái phép. Người kinh doanh chân chính đặt cái tâm vào sẽ ko vì lợi nhuận bất chấp làm tổn hại sức khỏe người khác. Lúc đặt tâm vào kinh doanh, bất kỳ ngành nghề nào trong xã hội, đề cao lương tâm, phục vụ người dùng, thành phầm chất lượng tốt tạo điều kiện cho việc sản xuất kinh doanh sẽ tăng trưởng thuận tiện, họ càng nỗ lực làm việc tốt tạo thành vòng tuần hoàn làm cuộc sống tốt đẹp.

-Đạo đức trong kinh doanh rất quan trọng mang lại sự tăng trưởng vững bền của doanh nghiệp, ko có rủi ro cho chính bản thân doanh nghiệp và người dùng.

-Sự chân thực chính là đạo đức trong kinh doanh, ko gian lận, ko chiêu trò giữ gìn hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp. Công việc kinh doanh gắn liền với cuộc sống hàng ngày vì vậy người kinh doanh gieo nhân tốt, tự tạo phước lành cho mình xây dựng thương hiệu bằng các trị giá thành phầm tốt, đem lại chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Chính chất lượng thành phầm giữ người dùng trung thành, bền lâu còn thành phầm kém chất lượng sẽ dẫn doanh nghiệp vỡ nợ.

Chữ tâm trong Nho giáo

Con người đều có tâm, tâm tốt hay tâm xấu nhưng thôi. Người vô tâm là người có tâm xấu, ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân, người thất nhân tâm là người có tâm xấu làm hại tới người xung quanh. Tâm có tốt lành mới tạo ra việc làm tốt có ý nghĩa và nói ra lời hay ý đẹp.

Trong thư pháp, chữ Tâm có thể viết bằng chữ Hán hoặc chữ Quốc Ngữ, làm mới và thông minh đem lại thành phầm trang trí cho ko gian cũng như răng dạy bản thân giữ cho tâm trong sáng, lương thiện cho cuộc sống tốt đẹp hơn hướng tới chân thiện mỹ.

Chữ tâm có mặt trong văn học Việt Nam như ca dao, tục ngữ , truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai…Trong giao tiếp , người ta chúc nhau ” thân tâm an lạc ” tâm ko bị lạc, ko bị chi phối thì thân có thể an. Theo tiếng Việt, tâm có tức là lòng người. Chữ tâm ghép với nhiều từ không giống nhau như : tâm an, tâm lý, thần kinh, tâm trạng, tiềm thức, tâm tình, thiện tâm, vọng tâm, nội tâm, thành tâm, ác tâm, tà tâm….Cuộc sống hiện đại, con người càng vô tâm, vô cảm . Vì vậy, con người phải biết nuôi dưỡng tâm mình để có ý thức và sức khỏe tốt hơn, tạo lối sống tươi đẹp.

Trong Nho giáo

Chữ Tâm trong Đạo thiên chúa

Trong giáo lý

Tuỳ theo văn mạch và mối tương quan, “tâm” trong Công Giáo được diễn tả bằng nhiều danh từ không giống nhau: Tim (heart), cõi lòng con người (the depths of one’s being), tâm hồn (mind), vong linh (soul), lương tâm (consciene).

Dùng từ “tim”  (con tim, trái tim, quả tim) lúc muốn nói “tâm” là:

– Trung tâm hiện hữu của con người.

– Nơi thầm kín của tư nhân, lý trí hay người ngoài ko dò thấu được, chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể thăm dò và thấu suốt được.

– Nơi con người chân thực với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết.

– Nơi gặp mặt để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Nơi sống giao ước.

Dùng từ “lòng con người” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các pháp giới tự nhiên của Ngài .

– Nơi quyết định chọn Thiên Chúa hay ko .

– Nơi có sự tức giận và tị tị là hậu quả của nguyên tội .

– Nơi phát xuất những ý định xấu, là xuất xứ của mọi tội vạ .

– Nơi Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới, ghi khắc lệ luật mới .

Dùng từ “tâm hồn” lúc muốn nói “tâm” là:

– Trung tâm của tư cách luân lý .

– Nguồn phát xuất các ham mê, ham mê cơ bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo thu hút .

– Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các pháp giới tự nhiên của Ngài .

– Nơi cần thanh luyện để đấu tranh chống lại nhục dục .

Dùng từ “vong linh” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nguyên tắc thuần linh nơi con người, nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa .

– Cái thâm sâu nhất và trị giá nhất nơi con người .

– Sự sống của con người và cũng là toàn diện con người .

– Mầm sống vĩnh cửu do Thiên Chúa trực tiếp thông minh nhưng con người mang nơi mình .

Dùng từ “lương tâm” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nơi con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vẻ vang trong thâm tâm họ .

– Tiếng gọi con người phải yêu quý và ra lệnh phải làm lành lánh dữ .

– Nơi suy đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu .

Tương tự, một cách tương đối, có thể hiểu “tâm” là: (1) “tâm hồn” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện con người nói chung. (2) “vong linh” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện con người tôn giáo. (3) “lương tâm” trong tương quan với “thiện ác” trên phương diện lý trí. (4) “cõi lòng” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện ý chí. (5) “trái tim” trong tương quan với “yêu ghét” trên phương diện tình cảm.

Trong thực hành

Đạo Chúa bắt nguồn từ “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 8), vì Thiên Chúa đã yêu thế gian tới nỗi phó nộp Con Một của Người cho thế gian (x. Ga 3,16): “Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay lúc chúng ta còn là những người tội vạ, đó là chứng cớ Thiên Chúa mến thương chúng ta” (Rm 5, 8).

Bởi đó, có lệnh truyền “Anh em hãy mến thương nhau như Thầy đã mến thương anh em” (Ga 13, 34). Người nào ghét bỏ tha nhân, kẻ đó ko còn là môn đệ của Chúa Giêsu nữa: “Người ta căn cứ vào dấu này để nhận mặt anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng mến thương nhau” (Ga 13, 35).

Kitô hữu có nghĩa vụ “huấn luyện lương tâm”  và “thanh luyện tâm hồn”  để trình bày chữ tâm: “hết lòng, hết vong linh, hết trí khôn và hết sức lực” (Mc 12,30), để đi cho tới tận cùng sự sống là “chết cho người mình yêu” (x Ga 15,13-14) lúc đó, Kitô hữu hoàn thành cuộc đời mình trong chữ tâm. Đó là lý do nhưng xưa kia người Việt gọi Đạo Chúa là “Đạo Yêu Thương” vậy.

Thơ về chữ TÂM

Hồng phúc ân tình lưu sáng mãi, Tâm thành nghĩa trọng vững bền lâu

Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài

Ý nghĩa của chữ Tâm như thế nào?

Chúng ta thường hay nghe “làm việc có Tâm”? Vậy “tâm” là gì?

Ý nghĩa của chữ “Tâm”

Tâm: Tấm lòng tức là phải sống lương thiện, tử tế, ko làm hại người nào, đối xử tốt với nhau; quyết tâm

Nếu lòng mình rộng lượng thì mình thu phục được lòng nhân, nếu mình có đức tín thành thì người tin tưởng mình, nếu mình mau mắn siêng năng thì làm được nhiều việc, nếu mình thi ân bố đức thì mình sai khiến được người.

Trở lại với lòng mình, nhận định, xem xét nếu cái gì mình thấy ko hợp lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói và đừng làm, cũng như để hành động sao cho hợp với đạo lý, lễ chế xã hội.

Cái gì bản thân mình ko muốn hoặc người ko muốn thì ko làm cho người. Cái gì người muốn thì tích tụ lại cho người.

Mình muốn đứng vững thì làm cho người khác đứng vững; mình muốn thành đạt thì hỗ trợ cho người khác thành đạt.
Quyết tâm.
Tâm huyết.
Tâm là tâm thể, chân tâm.
Tâm là yên tâm, an tâm. Muốn an “Tâm” thì phải sống cương trực thẳng thắn, trong sáng.
“Tâm” được hiểu là nơi trú ngụ của hoạt động ý thức của con người. Nó còn mang ý tức là lương tâm đạo đức, tấm lòng, lòng bao dung, nhân ái khoan dung, vị tha, thương người như thể thương thân.
“Tâm” còn biểu lộ là sự thông cảm, biết san sẻ với người khác lúc thiến nạn, khó khăn. “Tâm” là tính nết, tâm can, tâm tư, tâm tưởng, là toàn tâm toàn ý cho công việc cho sự nghiệp, lý tưởng của mình. Trong đời sống ý thức cái “Tâm” bác học cũng tác động nhiều tới con người Việt Nam.
“Tâm” là tâm sức, là sự tập trung cao độ của sức lực con người. Ở mỗi người, người nào cũng tồn tại cái “Tâm” trong mình. Vì thế, trong cư xử giữa con người với con người, điều quan trọng là tấm lòng, là thành “Tâm”, thực lòng sống hết lòng vì nhau.
Tâm là tính thiện, là việc làm tốt, là suy nghĩ mình vì mọi người. Người có Tâm là người ko làm điều gì ác, ko làm việc gì phương hại tới người nào, luôn đặt lợi ích của mọi người, của xã hội lên trên lợi ích của mình…
Tâm chính là tâm hồn của con người, có tâm tức là có lòng nhân ái, thương người, biết thông cảm và san sẻ với những người khác lúc khó khăn, thiến nạn. TÂM ở đậy cũng là lương tâm, là lẽ phải lúc sống ở đời. Con người sống trên đời phải biết giữ lấy chữ TÂM đó để sống tốt, sống có ích.

Bài viết quá chất lượng và ý nghĩa. Cám ơn bác.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục


Xem thêm chi tiết: Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Hình Ảnh về: Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Video về: Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Wiki về Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM -

Ý nghĩa chữ “TÂM” trong “Thư pháp” và “Phật giáo”

Văn hoá Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng thì chữ “Tâm” đã trở thành rất đỗi thân yêu và bình dị, càng bình dị hơn lúc nó chứa đựng trong mình những ý nghĩa hết sức to lớn. Với một chữ “Tâm” thôi cũng đã hao tổn ko biết bao nhiêu giấy mực, được đàm đạo trong nhiều thời kì và tới thời nay nó vẫn là đề tài được bàn luận sôi nổi. Bao đời nay thì Chữ TÂM luôn được coi trọng và đề cao bởi “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Ý nghĩa chung của chữ “Tâm”

Chữ “tâm “theo nhiều trường phái triết học và tôn giáo sẽ có những ý nghĩa riêng nhưng quy tụ chung về những đặc điểm sau:

Lúc nhắc tới “tâm” là nhắc tới trái tim, lòng dạ, lương tâm con người. Mọi hành động của con người đều xuất phát từ cái tâm, tâm thiện thì suy nghĩ và hành động đúng đạo lí, lẽ phải; tâm ko lành thì sẽ sinh tà ý và làm nhiều điều xấu xa, tội vạ.

Bạn đang xem: Ý NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Chữ “tâm” thường được dùng để hướng suy nghĩ của con người tới cái thiện, tu thân, dưỡng tính, sống tích cực và làm nhiều điều tốt lành. Tâm sai lệch thì cuộc sống điên đảo điên đảo. Tâm gian dối thì cuộc sống bất an. Tâm ghen tuông ghét thì cuộc sống hận thù. Tâm đố kỵ thì cuộc sống mất vui. Tâm tham lam thì cuộc sống gian sảo.

Vậy nên hãy để tâm của mình đặt lên ngực để mến thương, đặt lên tay để hỗ trợ người khác, lên mắt để thấy được nỗi khổ của tha nhân, lên chân để may mắn chạy tới với người cùng khổ, lên mồm để nói lời xoa dịu với người xấu số, lên tai để nghe lời góp ý của người khác, lên vai để chịu trách nhiệm…

Ý nghĩa chữ tâm trong phật giáo

Khái niệm “tâm” của Phật Giáo ko đơn giản như các học giả phương Tây lầm tưởng. Tâm được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật Giáo. Kinh Pháp Cú, vốn được xem như Kinh Thánh của Phật Giáo mở đầu như sau: “Tâm dẫn đầu các pháp. Tâm là chủ. Tâm tạo tất cả”. Một cách nói chung, qua các kinh điển Phật Giáo  người ta có thể phân biệt sáu loại tâm:

Ý nghĩa chữ tâm trong phật giáo

Nhục đoàn tâm (肉團心)

trái tim thịt (Phật Giáo ko quan tâm nhiều tới nghĩa này). Ví dụ: “Hễ Bồ Tát nghe tiếng bọn người ác ngoại đạo đem lời dèm pha phá huỷ Phật giái, dường như ba trăm mũi giáo đâm vào tâm mình” (Bồ Tát Giái Kinh).

Tinh yếu tâm (精要心)

Chỗ kín mật, chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ. Ví dụ: “Phật pháp lấy tâm làm gốc, lấy thân và khẩu làm ngọn” (Long Thọ Bồ Tát).

Kiên tình thực (堅實心)

Là cái tâm ko hư vọng, cũng gọi là chân tâm. Chỉ cái tuyệt đối, cái mầm mống tỉnh ngộ vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, đó là Phật tính: “Cơ bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm. Cơ bản của bồ đề niết bàn là chân tâm” (Kinh Thủ Lăng Nghiêm).

Liễu biệt tâm (了別心) [3]

Gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức , tức là tri thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của nó là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an dù tình cảnh nào cũng an”.

Tư lượng tâm (思量心) còn gọi là Mạt-na thức (末那識)

Thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các tính năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ tám (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy nhưng tạo ra chấp ngã, là bản ngã, cái tôi của con người (ego-consciousness). Thực chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác với thức thứ sáu. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực nhưng người ta ko thể điều khiển một cách có chủ ý, thường phát sinh những tranh chấp của những quyết định tiềm thức và ko ngừng chấp dính vào bản ngã: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức” (Du-già sư địa luận)

Tập khởi tâm (集起心) còn gọi là A-lại-da thức (阿賴耶識) dịch tức là tạng thức (藏識)

Chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và xuất xứ tất cả các hiện tượng ý thức. Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình. Tâm lý học phương Tây thường gọi thức này là vô thức hay tiềm thức: “Nhất quyết thế gian trung. Mặc bất tùng tâm tạo: Tất cả những gì trong thế gian. Đều là do tâm tạo” (Kinh Hoa Nghiêm)

Phật Giáo ko quan niệm tâm là một cái gì thuần nhất, giản đơn theo kiểu như khái niệm vong linh. Theo Ngũ uẩn, tâm ko phải chỉ là một cục hay một khối cứng nhắc, nhưng là một luồng tư tưởng, một chuỗi dài tư tưởng, có sinh có diệt (khác quan niệm “hồn thiêng bất tử”), có năng lực (nghiệp lực) được chuyển từ luồng này sang luồng khác. Cái luồng tâm này với những nghiệp lực là cơ bản cho sự tái sinh.

Theo Vi Diệu pháp, tâm ko phải là một cá thể, nhưng là một dòng tiềm thức gồm nhiều loại tâm khởi lên rồi diệt. Lúc con người còn sống thì dòng tiềm thức lặng lẽ trôi chảy trong ngũ uẩn, nếu ko có một tâm nào khác khởi lên. Lúc chết, dòng tiềm thức cuối cùng của kiếp này trở thành dòng tiềm thức trước hết của kiếp sau. Duy Thức học triển khai thêm tiềm thức là cái biết, cơ bản là tạng thức, chứa đựng các loại chủng tử …

Tóm lại, dù nhìn dưới khía cạnh nào, có thể nói theo Thiền Tông: Có hai thứ tâm. Một thứ là tâm theo dòng tiềm thức, khởi lên rồi diệt, vì ngũ uẩn bị mê mờ bởi tham ái, dục lạc, vọng tưởng; tâm này được gọi là Vọng tâm là tâm của chúng sinh. Hai là Chân tâm có tự tính là thanh tịnh, ko sinh diệt, ko dao động, thường vắng lặng, là tính giác của những vị đã tỉnh ngộ, cũng còn được gọi là Tâm Phật.

Hai câu kinh đầu Phật dạy là: Tâm dẫn đầu các pháp 

Chữ tâm trong thư pháp

Ý nghĩa chữ “Tâm” ở thư pháp chữ tâm đã được nói ra ở 2 phần trên và ngoài ra còn trình bày được trị giá và tầm quan trọng của của chữ tâm hơn bằng những nét cọ mạnh mẽ, uyển chuyển, đầy sức tạo hình, gợi ý đóng vào những khung tranh tươm tất, chỉnh chu và luôn đặt ở những vị trí quan trọng nhất trong nhà và thường làm quà để tặng cho bè bạn nhằm khuyên răn nhau giữ đúng cái Tâm là giữ đúng thực chất của một con người đúng nghĩa.

Chữ tâm trong thư pháp

Thư pháp chữ tâm có thể viết bằng tiếng Hán hoặc chữ quốc ngữ trên nhiều chất liệu không giống nhau, làm mới và tạo hình thông minh tùy ý muốn của chủ sở hữu hoặc ý tưởng của ông đồ. Ngoài ra, đi kèm với thư pháp chữ tâm còn có thể có những thư phổ phụ đề như:

Thư pháp chữ tâm có thể viết bằng tiếng Hán hoặc chữ quốc ngữ trên nhiều chất liệu không giống nhau, làm mới và tạo hình thông minh tùy ý muốn của chủ sở hữu hoặc ý tưởng của ông đồ. Ngoài ra, đi kèm với thư pháp chữ tâm còn có thể có những thư phổ phụ đề như:

Chữ Tâm tiếng Hán

Tâm trong chữ Hán có 2 cách viết và 2 nghĩa

1. Tâm mang ý tức là tim (trái tim), tình cảm của con người, lòng dạ, điểm chính giữa như tâm tạng, tâm thất, tâm phúc, tâm phục, tâm ý, đồng tâm, trọng tâm, trung tâm, viên tâm…

-Tên một ngôi sao là sao Tâm trong nhị thập bát cú tức là sao hỏa.

– Tên một bộ chữ Hán là bộ Tâm.

2. Tâm mang ý nghĩa tâm lý và đạo đức : tính nết, tâm tưởng, tâm ý, lương tâm

-Tượng trưng cho tình cảm, tình yêu .

-Suy nghĩ và cảm giác, nhận thức sự vật : tâm trí,

-Các hiện tượng tâm lý : tâm trạng, thần kinh, tâm lý.

– Phần linh thiên của con người đối lập với thể xác như  tâm linh, tâm hồn…

Chữ Tâm trong kinh doanh

Chữ Tâm trong lĩnh vực kinh doanh là đạo đức trong kinh doanh. Người chủ kinh doanh có tâm ko dùng thủ đoạn thấp kém, tôn trọng pháp luật, bảo vệ người tiêu dùng. Thực chất làm ăn kinh doanh là làm ra nhiều tiền, làm giàu dẫn tới 2 trường hợp làm giàu hợp pháp và trái phép. Người kinh doanh chân chính đặt cái tâm vào sẽ ko vì lợi nhuận bất chấp làm tổn hại sức khỏe người khác. Lúc đặt tâm vào kinh doanh, bất kỳ ngành nghề nào trong xã hội, đề cao lương tâm, phục vụ người dùng, thành phầm chất lượng tốt tạo điều kiện cho việc sản xuất kinh doanh sẽ tăng trưởng thuận tiện, họ càng nỗ lực làm việc tốt tạo thành vòng tuần hoàn làm cuộc sống tốt đẹp.

-Đạo đức trong kinh doanh rất quan trọng mang lại sự tăng trưởng vững bền của doanh nghiệp, ko có rủi ro cho chính bản thân doanh nghiệp và người dùng.

-Sự chân thực chính là đạo đức trong kinh doanh, ko gian lận, ko chiêu trò giữ gìn hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp. Công việc kinh doanh gắn liền với cuộc sống hàng ngày vì vậy người kinh doanh gieo nhân tốt, tự tạo phước lành cho mình xây dựng thương hiệu bằng các trị giá thành phầm tốt, đem lại chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Chính chất lượng thành phầm giữ người dùng trung thành, bền lâu còn thành phầm kém chất lượng sẽ dẫn doanh nghiệp vỡ nợ.

Chữ tâm trong Nho giáo

Con người đều có tâm, tâm tốt hay tâm xấu nhưng thôi. Người vô tâm là người có tâm xấu, ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân, người thất nhân tâm là người có tâm xấu làm hại tới người xung quanh. Tâm có tốt lành mới tạo ra việc làm tốt có ý nghĩa và nói ra lời hay ý đẹp.

Trong thư pháp, chữ Tâm có thể viết bằng chữ Hán hoặc chữ Quốc Ngữ, làm mới và thông minh đem lại thành phầm trang trí cho ko gian cũng như răng dạy bản thân giữ cho tâm trong sáng, lương thiện cho cuộc sống tốt đẹp hơn hướng tới chân thiện mỹ.

Chữ tâm có mặt trong văn học Việt Nam như ca dao, tục ngữ , truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai…Trong giao tiếp , người ta chúc nhau ” thân tâm an lạc ” tâm ko bị lạc, ko bị chi phối thì thân có thể an. Theo tiếng Việt, tâm có tức là lòng người. Chữ tâm ghép với nhiều từ không giống nhau như : tâm an, tâm lý, thần kinh, tâm trạng, tiềm thức, tâm tình, thiện tâm, vọng tâm, nội tâm, thành tâm, ác tâm, tà tâm….Cuộc sống hiện đại, con người càng vô tâm, vô cảm . Vì vậy, con người phải biết nuôi dưỡng tâm mình để có ý thức và sức khỏe tốt hơn, tạo lối sống tươi đẹp.

Trong Nho giáo

Chữ Tâm trong Đạo thiên chúa

Trong giáo lý

Tuỳ theo văn mạch và mối tương quan, “tâm” trong Công Giáo được diễn tả bằng nhiều danh từ không giống nhau: Tim (heart), cõi lòng con người (the depths of one’s being), tâm hồn (mind), vong linh (soul), lương tâm (consciene).

Dùng từ “tim”  (con tim, trái tim, quả tim) lúc muốn nói “tâm” là:

– Trung tâm hiện hữu của con người.

– Nơi thầm kín của tư nhân, lý trí hay người ngoài ko dò thấu được, chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể thăm dò và thấu suốt được.

– Nơi con người chân thực với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết.

– Nơi gặp mặt để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Nơi sống giao ước.

Dùng từ “lòng con người” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các pháp giới tự nhiên của Ngài .

– Nơi quyết định chọn Thiên Chúa hay ko .

– Nơi có sự tức giận và tị tị là hậu quả của nguyên tội .

– Nơi phát xuất những ý định xấu, là xuất xứ của mọi tội vạ .

– Nơi Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới, ghi khắc lệ luật mới .

Dùng từ “tâm hồn” lúc muốn nói “tâm” là:

– Trung tâm của tư cách luân lý .

– Nguồn phát xuất các ham mê, ham mê cơ bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo thu hút .

– Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các pháp giới tự nhiên của Ngài .

– Nơi cần thanh luyện để đấu tranh chống lại nhục dục .

Dùng từ “vong linh” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nguyên tắc thuần linh nơi con người, nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa .

– Cái thâm sâu nhất và trị giá nhất nơi con người .

– Sự sống của con người và cũng là toàn diện con người .

– Mầm sống vĩnh cửu do Thiên Chúa trực tiếp thông minh nhưng con người mang nơi mình .

Dùng từ “lương tâm” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nơi con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vẻ vang trong thâm tâm họ .

– Tiếng gọi con người phải yêu quý và ra lệnh phải làm lành lánh dữ .

– Nơi suy đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu .

Tương tự, một cách tương đối, có thể hiểu “tâm” là: (1) “tâm hồn” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện con người nói chung. (2) “vong linh” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện con người tôn giáo. (3) “lương tâm” trong tương quan với “thiện ác” trên phương diện lý trí. (4) “cõi lòng” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện ý chí. (5) “trái tim” trong tương quan với “yêu ghét” trên phương diện tình cảm.

Trong thực hành

Đạo Chúa bắt nguồn từ “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 8), vì Thiên Chúa đã yêu thế gian tới nỗi phó nộp Con Một của Người cho thế gian (x. Ga 3,16): “Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay lúc chúng ta còn là những người tội vạ, đó là chứng cớ Thiên Chúa mến thương chúng ta” (Rm 5, 8).

Bởi đó, có lệnh truyền “Anh em hãy mến thương nhau như Thầy đã mến thương anh em” (Ga 13, 34). Người nào ghét bỏ tha nhân, kẻ đó ko còn là môn đệ của Chúa Giêsu nữa: “Người ta căn cứ vào dấu này để nhận mặt anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng mến thương nhau” (Ga 13, 35).

Kitô hữu có nghĩa vụ “huấn luyện lương tâm”  và “thanh luyện tâm hồn”  để trình bày chữ tâm: “hết lòng, hết vong linh, hết trí khôn và hết sức lực” (Mc 12,30), để đi cho tới tận cùng sự sống là “chết cho người mình yêu” (x Ga 15,13-14) lúc đó, Kitô hữu hoàn thành cuộc đời mình trong chữ tâm. Đó là lý do nhưng xưa kia người Việt gọi Đạo Chúa là “Đạo Yêu Thương” vậy.

Thơ về chữ TÂM

Hồng phúc ân tình lưu sáng mãi, Tâm thành nghĩa trọng vững bền lâu

Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài

Ý nghĩa của chữ Tâm như thế nào?

Chúng ta thường hay nghe “làm việc có Tâm”? Vậy “tâm” là gì?

Ý nghĩa của chữ “Tâm”

Tâm: Tấm lòng tức là phải sống lương thiện, tử tế, ko làm hại người nào, đối xử tốt với nhau; quyết tâm

Nếu lòng mình rộng lượng thì mình thu phục được lòng nhân, nếu mình có đức tín thành thì người tin tưởng mình, nếu mình mau mắn siêng năng thì làm được nhiều việc, nếu mình thi ân bố đức thì mình sai khiến được người.

Trở lại với lòng mình, nhận định, xem xét nếu cái gì mình thấy ko hợp lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói và đừng làm, cũng như để hành động sao cho hợp với đạo lý, lễ chế xã hội.

Cái gì bản thân mình ko muốn hoặc người ko muốn thì ko làm cho người. Cái gì người muốn thì tích tụ lại cho người.

Mình muốn đứng vững thì làm cho người khác đứng vững; mình muốn thành đạt thì hỗ trợ cho người khác thành đạt.
Quyết tâm.
Tâm huyết.
Tâm là tâm thể, chân tâm.
Tâm là yên tâm, an tâm. Muốn an “Tâm” thì phải sống cương trực thẳng thắn, trong sáng.
“Tâm” được hiểu là nơi trú ngụ của hoạt động ý thức của con người. Nó còn mang ý tức là lương tâm đạo đức, tấm lòng, lòng bao dung, nhân ái khoan dung, vị tha, thương người như thể thương thân.
“Tâm” còn biểu lộ là sự thông cảm, biết san sẻ với người khác lúc thiến nạn, khó khăn. “Tâm” là tính nết, tâm can, tâm tư, tâm tưởng, là toàn tâm toàn ý cho công việc cho sự nghiệp, lý tưởng của mình. Trong đời sống ý thức cái “Tâm” bác học cũng tác động nhiều tới con người Việt Nam.
“Tâm” là tâm sức, là sự tập trung cao độ của sức lực con người. Ở mỗi người, người nào cũng tồn tại cái “Tâm” trong mình. Vì thế, trong cư xử giữa con người với con người, điều quan trọng là tấm lòng, là thành “Tâm”, thực lòng sống hết lòng vì nhau.
Tâm là tính thiện, là việc làm tốt, là suy nghĩ mình vì mọi người. Người có Tâm là người ko làm điều gì ác, ko làm việc gì phương hại tới người nào, luôn đặt lợi ích của mọi người, của xã hội lên trên lợi ích của mình…
Tâm chính là tâm hồn của con người, có tâm tức là có lòng nhân ái, thương người, biết thông cảm và san sẻ với những người khác lúc khó khăn, thiến nạn. TÂM ở đậy cũng là lương tâm, là lẽ phải lúc sống ở đời. Con người sống trên đời phải biết giữ lấy chữ TÂM đó để sống tốt, sống có ích.

Bài viết quá chất lượng và ý nghĩa. Cám ơn bác.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục

[rule_{ruleNumber}]

Gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức , tức là tri thức giác quan và ý thức. Căn cứ phát sinh của nó là giác quan, thần kinh hệ và não bộ. Có tác dụng dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài và phân biệt nhận thức chúng: “Tâm buồn cảnh được vui sao, tâm an dù tình cảnh nào cũng an”.

Tư lượng tâm (思量心) còn gọi là Mạt-na thức (末那識)

Thức thứ bảy trong tám thức. Một trong các tính năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ tám (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy nhưng tạo ra chấp ngã, là bản ngã, cái tôi của con người (ego-consciousness). Thực chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác với thức thứ sáu. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực nhưng người ta ko thể điều khiển một cách có chủ ý, thường phát sinh những tranh chấp của những quyết định tiềm thức và ko ngừng chấp dính vào bản ngã: “Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức” (Du-già sư địa luận)

Tập khởi tâm (集起心) còn gọi là A-lại-da thức (阿賴耶識) dịch tức là tạng thức (藏識)

Chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và xuất xứ tất cả các hiện tượng ý thức. Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình. Tâm lý học phương Tây thường gọi thức này là vô thức hay tiềm thức: “Nhất quyết thế gian trung. Mặc bất tùng tâm tạo: Tất cả những gì trong thế gian. Đều là do tâm tạo” (Kinh Hoa Nghiêm)

Phật Giáo ko quan niệm tâm là một cái gì thuần nhất, giản đơn theo kiểu như khái niệm vong linh. Theo Ngũ uẩn, tâm ko phải chỉ là một cục hay một khối cứng nhắc, nhưng là một luồng tư tưởng, một chuỗi dài tư tưởng, có sinh có diệt (khác quan niệm “hồn thiêng bất tử”), có năng lực (nghiệp lực) được chuyển từ luồng này sang luồng khác. Cái luồng tâm này với những nghiệp lực là cơ bản cho sự tái sinh.

Theo Vi Diệu pháp, tâm ko phải là một cá thể, nhưng là một dòng tiềm thức gồm nhiều loại tâm khởi lên rồi diệt. Lúc con người còn sống thì dòng tiềm thức lặng lẽ trôi chảy trong ngũ uẩn, nếu ko có một tâm nào khác khởi lên. Lúc chết, dòng tiềm thức cuối cùng của kiếp này trở thành dòng tiềm thức trước hết của kiếp sau. Duy Thức học triển khai thêm tiềm thức là cái biết, cơ bản là tạng thức, chứa đựng các loại chủng tử …

Tóm lại, dù nhìn dưới khía cạnh nào, có thể nói theo Thiền Tông: Có hai thứ tâm. Một thứ là tâm theo dòng tiềm thức, khởi lên rồi diệt, vì ngũ uẩn bị mê mờ bởi tham ái, dục lạc, vọng tưởng; tâm này được gọi là Vọng tâm là tâm của chúng sinh. Hai là Chân tâm có tự tính là thanh tịnh, ko sinh diệt, ko dao động, thường vắng lặng, là tính giác của những vị đã tỉnh ngộ, cũng còn được gọi là Tâm Phật.

Hai câu kinh đầu Phật dạy là: Tâm dẫn đầu các pháp 

Chữ tâm trong thư pháp

Ý nghĩa chữ “Tâm” ở thư pháp chữ tâm đã được nói ra ở 2 phần trên và ngoài ra còn trình bày được trị giá và tầm quan trọng của của chữ tâm hơn bằng những nét cọ mạnh mẽ, uyển chuyển, đầy sức tạo hình, gợi ý đóng vào những khung tranh tươm tất, chỉnh chu và luôn đặt ở những vị trí quan trọng nhất trong nhà và thường làm quà để tặng cho bè bạn nhằm khuyên răn nhau giữ đúng cái Tâm là giữ đúng thực chất của một con người đúng nghĩa.

Chữ tâm trong thư pháp

Thư pháp chữ tâm có thể viết bằng tiếng Hán hoặc chữ quốc ngữ trên nhiều chất liệu không giống nhau, làm mới và tạo hình thông minh tùy ý muốn của chủ sở hữu hoặc ý tưởng của ông đồ. Ngoài ra, đi kèm với thư pháp chữ tâm còn có thể có những thư phổ phụ đề như:

Thư pháp chữ tâm có thể viết bằng tiếng Hán hoặc chữ quốc ngữ trên nhiều chất liệu không giống nhau, làm mới và tạo hình thông minh tùy ý muốn của chủ sở hữu hoặc ý tưởng của ông đồ. Ngoài ra, đi kèm với thư pháp chữ tâm còn có thể có những thư phổ phụ đề như:

Chữ Tâm tiếng Hán

Tâm trong chữ Hán có 2 cách viết và 2 nghĩa

1. Tâm mang ý tức là tim (trái tim), tình cảm của con người, lòng dạ, điểm chính giữa như tâm tạng, tâm thất, tâm phúc, tâm phục, tâm ý, đồng tâm, trọng tâm, trung tâm, viên tâm…

-Tên một ngôi sao là sao Tâm trong nhị thập bát cú tức là sao hỏa.

– Tên một bộ chữ Hán là bộ Tâm.

2. Tâm mang ý nghĩa tâm lý và đạo đức : tính nết, tâm tưởng, tâm ý, lương tâm

-Tượng trưng cho tình cảm, tình yêu .

-Suy nghĩ và cảm giác, nhận thức sự vật : tâm trí,

-Các hiện tượng tâm lý : tâm trạng, thần kinh, tâm lý.

– Phần linh thiên của con người đối lập với thể xác như  tâm linh, tâm hồn…

Chữ Tâm trong kinh doanh

Chữ Tâm trong lĩnh vực kinh doanh là đạo đức trong kinh doanh. Người chủ kinh doanh có tâm ko dùng thủ đoạn thấp kém, tôn trọng pháp luật, bảo vệ người tiêu dùng. Thực chất làm ăn kinh doanh là làm ra nhiều tiền, làm giàu dẫn tới 2 trường hợp làm giàu hợp pháp và trái phép. Người kinh doanh chân chính đặt cái tâm vào sẽ ko vì lợi nhuận bất chấp làm tổn hại sức khỏe người khác. Lúc đặt tâm vào kinh doanh, bất kỳ ngành nghề nào trong xã hội, đề cao lương tâm, phục vụ người dùng, thành phầm chất lượng tốt tạo điều kiện cho việc sản xuất kinh doanh sẽ tăng trưởng thuận tiện, họ càng nỗ lực làm việc tốt tạo thành vòng tuần hoàn làm cuộc sống tốt đẹp.

-Đạo đức trong kinh doanh rất quan trọng mang lại sự tăng trưởng vững bền của doanh nghiệp, ko có rủi ro cho chính bản thân doanh nghiệp và người dùng.

-Sự chân thực chính là đạo đức trong kinh doanh, ko gian lận, ko chiêu trò giữ gìn hình ảnh và uy tín của doanh nghiệp. Công việc kinh doanh gắn liền với cuộc sống hàng ngày vì vậy người kinh doanh gieo nhân tốt, tự tạo phước lành cho mình xây dựng thương hiệu bằng các trị giá thành phầm tốt, đem lại chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Chính chất lượng thành phầm giữ người dùng trung thành, bền lâu còn thành phầm kém chất lượng sẽ dẫn doanh nghiệp vỡ nợ.

Chữ tâm trong Nho giáo

Con người đều có tâm, tâm tốt hay tâm xấu nhưng thôi. Người vô tâm là người có tâm xấu, ích kỷ, chỉ nghĩ cho bản thân, người thất nhân tâm là người có tâm xấu làm hại tới người xung quanh. Tâm có tốt lành mới tạo ra việc làm tốt có ý nghĩa và nói ra lời hay ý đẹp.

Trong thư pháp, chữ Tâm có thể viết bằng chữ Hán hoặc chữ Quốc Ngữ, làm mới và thông minh đem lại thành phầm trang trí cho ko gian cũng như răng dạy bản thân giữ cho tâm trong sáng, lương thiện cho cuộc sống tốt đẹp hơn hướng tới chân thiện mỹ.

Chữ tâm có mặt trong văn học Việt Nam như ca dao, tục ngữ , truyện Nôm như Kim Vân Kiều, Nhị Độ Mai…Trong giao tiếp , người ta chúc nhau ” thân tâm an lạc ” tâm ko bị lạc, ko bị chi phối thì thân có thể an. Theo tiếng Việt, tâm có tức là lòng người. Chữ tâm ghép với nhiều từ không giống nhau như : tâm an, tâm lý, thần kinh, tâm trạng, tiềm thức, tâm tình, thiện tâm, vọng tâm, nội tâm, thành tâm, ác tâm, tà tâm….Cuộc sống hiện đại, con người càng vô tâm, vô cảm . Vì vậy, con người phải biết nuôi dưỡng tâm mình để có ý thức và sức khỏe tốt hơn, tạo lối sống tươi đẹp.

Trong Nho giáo

Chữ Tâm trong Đạo thiên chúa

Trong giáo lý

Tuỳ theo văn mạch và mối tương quan, “tâm” trong Công Giáo được diễn tả bằng nhiều danh từ không giống nhau: Tim (heart), cõi lòng con người (the depths of one’s being), tâm hồn (mind), vong linh (soul), lương tâm (consciene).

Dùng từ “tim”  (con tim, trái tim, quả tim) lúc muốn nói “tâm” là:

– Trung tâm hiện hữu của con người.

– Nơi thầm kín của tư nhân, lý trí hay người ngoài ko dò thấu được, chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể thăm dò và thấu suốt được.

– Nơi con người chân thực với mình nhất, để chọn lựa sự sống hay sự chết.

– Nơi gặp mặt để sống các mối tương giao, vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa: Nơi sống giao ước.

Dùng từ “lòng con người” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các pháp giới tự nhiên của Ngài .

– Nơi quyết định chọn Thiên Chúa hay ko .

– Nơi có sự tức giận và tị tị là hậu quả của nguyên tội .

– Nơi phát xuất những ý định xấu, là xuất xứ của mọi tội vạ .

– Nơi Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới, ghi khắc lệ luật mới .

Dùng từ “tâm hồn” lúc muốn nói “tâm” là:

– Trung tâm của tư cách luân lý .

– Nguồn phát xuất các ham mê, ham mê cơ bản nhất là tình yêu do điều thiện hảo thu hút .

– Nơi Thiên Chúa đã ghi sâu các pháp giới tự nhiên của Ngài .

– Nơi cần thanh luyện để đấu tranh chống lại nhục dục .

Dùng từ “vong linh” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nguyên tắc thuần linh nơi con người, nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa .

– Cái thâm sâu nhất và trị giá nhất nơi con người .

– Sự sống của con người và cũng là toàn diện con người .

– Mầm sống vĩnh cửu do Thiên Chúa trực tiếp thông minh nhưng con người mang nơi mình .

Dùng từ “lương tâm” lúc muốn nói “tâm” là:

– Nơi con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vẻ vang trong thâm tâm họ .

– Tiếng gọi con người phải yêu quý và ra lệnh phải làm lành lánh dữ .

– Nơi suy đoán các lựa chọn cụ thể bằng cách tán thành lựa chọn tốt, tố giác lựa chọn xấu .

Tương tự, một cách tương đối, có thể hiểu “tâm” là: (1) “tâm hồn” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện con người nói chung. (2) “vong linh” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện con người tôn giáo. (3) “lương tâm” trong tương quan với “thiện ác” trên phương diện lý trí. (4) “cõi lòng” trong tương quan với “thể xác” trên phương diện ý chí. (5) “trái tim” trong tương quan với “yêu ghét” trên phương diện tình cảm.

Trong thực hành

Đạo Chúa bắt nguồn từ “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4, 8), vì Thiên Chúa đã yêu thế gian tới nỗi phó nộp Con Một của Người cho thế gian (x. Ga 3,16): “Ðức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay lúc chúng ta còn là những người tội vạ, đó là chứng cớ Thiên Chúa mến thương chúng ta” (Rm 5, 8).

Bởi đó, có lệnh truyền “Anh em hãy mến thương nhau như Thầy đã mến thương anh em” (Ga 13, 34). Người nào ghét bỏ tha nhân, kẻ đó ko còn là môn đệ của Chúa Giêsu nữa: “Người ta căn cứ vào dấu này để nhận mặt anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng mến thương nhau” (Ga 13, 35).

Kitô hữu có nghĩa vụ “huấn luyện lương tâm”  và “thanh luyện tâm hồn”  để trình bày chữ tâm: “hết lòng, hết vong linh, hết trí khôn và hết sức lực” (Mc 12,30), để đi cho tới tận cùng sự sống là “chết cho người mình yêu” (x Ga 15,13-14) lúc đó, Kitô hữu hoàn thành cuộc đời mình trong chữ tâm. Đó là lý do nhưng xưa kia người Việt gọi Đạo Chúa là “Đạo Yêu Thương” vậy.

Thơ về chữ TÂM

Hồng phúc ân tình lưu sáng mãi, Tâm thành nghĩa trọng vững bền lâu

Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài

Ý nghĩa của chữ Tâm như thế nào?

Chúng ta thường hay nghe “làm việc có Tâm”? Vậy “tâm” là gì?

Ý nghĩa của chữ “Tâm”

Tâm: Tấm lòng tức là phải sống lương thiện, tử tế, ko làm hại người nào, đối xử tốt với nhau; quyết tâm

Nếu lòng mình rộng lượng thì mình thu phục được lòng nhân, nếu mình có đức tín thành thì người tin tưởng mình, nếu mình mau mắn siêng năng thì làm được nhiều việc, nếu mình thi ân bố đức thì mình sai khiến được người.

Trở lại với lòng mình, nhận định, xem xét nếu cái gì mình thấy ko hợp lễ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói và đừng làm, cũng như để hành động sao cho hợp với đạo lý, lễ chế xã hội.

Cái gì bản thân mình ko muốn hoặc người ko muốn thì ko làm cho người. Cái gì người muốn thì tích tụ lại cho người.

Mình muốn đứng vững thì làm cho người khác đứng vững; mình muốn thành đạt thì hỗ trợ cho người khác thành đạt.
Quyết tâm.
Tâm huyết.
Tâm là tâm thể, chân tâm.
Tâm là yên tâm, an tâm. Muốn an “Tâm” thì phải sống cương trực thẳng thắn, trong sáng.
“Tâm” được hiểu là nơi trú ngụ của hoạt động ý thức của con người. Nó còn mang ý tức là lương tâm đạo đức, tấm lòng, lòng bao dung, nhân ái khoan dung, vị tha, thương người như thể thương thân.
“Tâm” còn biểu lộ là sự thông cảm, biết san sẻ với người khác lúc thiến nạn, khó khăn. “Tâm” là tính nết, tâm can, tâm tư, tâm tưởng, là toàn tâm toàn ý cho công việc cho sự nghiệp, lý tưởng của mình. Trong đời sống ý thức cái “Tâm” bác học cũng tác động nhiều tới con người Việt Nam.
“Tâm” là tâm sức, là sự tập trung cao độ của sức lực con người. Ở mỗi người, người nào cũng tồn tại cái “Tâm” trong mình. Vì thế, trong cư xử giữa con người với con người, điều quan trọng là tấm lòng, là thành “Tâm”, thực lòng sống hết lòng vì nhau.
Tâm là tính thiện, là việc làm tốt, là suy nghĩ mình vì mọi người. Người có Tâm là người ko làm điều gì ác, ko làm việc gì phương hại tới người nào, luôn đặt lợi ích của mọi người, của xã hội lên trên lợi ích của mình…
Tâm chính là tâm hồn của con người, có tâm tức là có lòng nhân ái, thương người, biết thông cảm và san sẻ với những người khác lúc khó khăn, thiến nạn. TÂM ở đậy cũng là lương tâm, là lẽ phải lúc sống ở đời. Con người sống trên đời phải biết giữ lấy chữ TÂM đó để sống tốt, sống có ích.

Bài viết quá chất lượng và ý nghĩa. Cám ơn bác.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục

#NGHĨA #CỦA #CHỮ #TÂM

[rule_3_plain]

#NGHĨA #CỦA #CHỮ #TÂM

[rule_1_plain]

#NGHĨA #CỦA #CHỮ #TÂM

[rule_2_plain]

#NGHĨA #CỦA #CHỮ #TÂM

[rule_2_plain]

#NGHĨA #CỦA #CHỮ #TÂM

[rule_3_plain]

#NGHĨA #CỦA #CHỮ #TÂM

[rule_1_plain]

Nguồn:chinphu.vn
Phân mục: Tin tức

#NGHĨA #CỦA #CHỮ #TÂM

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button