Tin Tức

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021 phải ko?Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài viết hay khác tại đây => Tin tức

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng 2021 đưa ra nội dung, phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả công việc tư vấn trong lĩnh vực công việc đang đảm nhiệm và những trắc trở cũng như đề xuất giải pháp.

  • Bài thu hoạch nghị quyết Trung Ương 5 khóa XII của Đảng viên
  • Bài thu hoạch chính trị hè
  • Mẫu bìa bài thu hoạch

Bài thu hoạch kỹ năng lãnh đạo cấp phòng

  • 1. Bài thu hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 1
  • 2. Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 2

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 1

I/ NHẬN THỨC VỀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI

1/ Ý nghĩa:

Bạn đang xem: Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Lãnh đạo sự thay đổi là một tiến trình xây dựng cầu nối giữa tầm nhìn và hành động, các nhà quản lý thường quyết tâm thực hiện sự thay đổi nhưng mà chưa chú ý tới chiến lược của sự thay đổi. Trong nhiều tình huống mọi người ko đón nhận sự thay đổi nhưng mà thay vào đó họ thường có thái độ phản kháng.Chuyên đề sẽ giúp ta nắm được hình thức và hướng khắc phục những trắc trở gặp phải trong quá trình thực hiện sự thay đổi.

Ở Việt Nam, lãnh đạo và quản lý sự thay đổi là một vấn đề khá mới mẻ nhưng cũng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”, sách bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục của dự án huấn luyện thầy cô giáo THCS, PGS.TS Đặng Xuân Hải đã nghiên cứu và cụ thể hóa các bước của quá trình quản lý sự thay đổi như sau:

Bước 1: Nhận diện sự thay đổi;

Bước 2: Sẵn sàng cho sự thay đổi;

Bước 3: Tích lũy số liệu, dữ liệu;

Bước 4: Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi;

Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước lãnh đạo sự thay đổi;

Bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu;

Bước 7: Xem xét các giải pháp;

Bước 8: Lựa chọn giải pháp;

Bước 9: Lập kế hoạch lãnh đạo việc thực hiện;

Bước 10: Nhận định sự thay đổi;

Bước 11: Đảm bảo tiếp tục đổi mới

2/ Lãnh đạo và quản lý sự thay đổi:

2.1/ Thay đổi là gì: Thay đổi là quá trình vận động do tác động, tác động qua lại của sự vật, hiện tượng, của các yếu tố bên trong và bên ngoài; thay đổi là tính chất chung của bất kì sự vật hiện tượng nào. Hay nói cách khác đơn giản hơn thay đổi là “Làm cho khác đi hay trở thành khác đi”

Những tác nhân gây ra sự thay đổi:

− Thay đổi về xã hội: chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách…

− Thay đổi về kinh tế: nông nghiệp dịch chuyển sang công nghiệp và dịch vụ, đổi mới phương tiện, dụng cụ, thay đổi công nghệ…

− Thay đổi về khoa học – công nghệ: vi tính, công nghệ thông tin…

− Thay đổi về giáo dục: chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện, hạ tầng trường học…

2.2 / Thay đổi bao gồm cả sự chuyển đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu

− Số lượng người học tăng lên hay giảm đi.

− Chất lượng giáo dục so với chuẩn là cao hay thấp.

− Cơ cấu đủ hay thừa, thiếu.

− Hạ tầng, phương tiện thay đổi.

− Tài chính tăng hay giảm.

− Thầy cô giáo, cán bộ, viên chức thay đổi.

2.3 / Thay đổi được hiểu ở các mức độ không giống nhau

− Cải tiến là tăng lên hay giảm đi những yếu tố nào đó của sự vật để cho thích hợp hơn; ko phải là sự thay đổi về thực chất.

− Đổi mới là thay cái cũ bằng cái mới; làm phát sinh sự vật mới; còn được hiểu là canh tân; là sự thay đổi về thực chất của sự vật.

− Cải cách là loại trừ cái cũ, bất hợp lý của sự vật thành cái mới có thể thích hợp với tình hình khách quan; là sự thay đổi về thực chất nhưng toàn diện và triệt để hơn so với đổi mới.

− Cách mệnh là sự thay đổi trọng đại, chuyển đổi tận gốc; là sự thay đổi cơ bản.

2.4 / Thay đổi một cách tiêu cực

− Ko có sự sẵn sàng trước, bị tác động một cách tự nhiên, bột phát.

− Ko dự kiến được hậu quả.

− Ko biết là cần thiết hay ko cần thiết.

2.5 / Chủ động thay đổi

− Dự kiến được kết quả.

− Biết được sự cần thiết.

− Có sự sẵn sàng trước, dự đoán được tương lai.

2.6/ Mong muốn thay đổi

– Học có hiệu quả và thích hợp hơn với tư nhân và số đông.

– Ước muốn của gia đình và số đông đối với việc học, đối với nhà trường.

– Nhu cầu học nhiều chủng loại và phong phú hơn.

2.7/ Đón nhận sự thay đổi

– Nhận mặt và tìm được những người muốn thay đổi;

– Hãy linh động với họ và trở thành đồng minh với họ!

– Nhận thấy tác dụng của thay đổi

– Nhận rõ sự thay đổi có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực

– Thời cơ thay đổi cũng đồng thời với thử thách lúc thay đổi

– Các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi có thể chưa rõ ràng

– Những người đồng ý thay đổi có thể còn quá ít

– Thay đổi có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có cả bất lợi

– Thay đổi là một quá trình tựnhiên

– Con người luôn sống với sự thay đổi: Từ trẻ sơ sinh tới trưởng thành và tuổi già. Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người cũng thay đổi theo thời kì.

– Giáo dục và trường học của Việt Nam cũng thay đổi qua các thời kì. Thay đổi là thế tất. Muốn hay ko muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ hiệu quả hơn, tích cực hơn. Hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực! Cần thay đổi – phải thay đổi – nên thay đổi – có thể thay đổi.

2.8 / Phản kháng sự thay đổi

– Có thể có nhiều người ko nhất trí với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau.

– Người phản kháng thường hay tìm các lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi.

– Sự phản kháng sẽ giảm đi lúc sự thay đổi có tác dụng tích cực nào đó.

– Cần thuyết phục, lôi kéo và chứng minh cho sự thay đổi.

2.9/ Nguyên nhân của sự thay đổi trường học

– Trường học có mối quan hệ biện chứng với nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, như:

– Các nguyên nhân xã hội, kinh tế, khoa học – công nghệ.

– Nguyên nhân hậu phía người học.

– Nguyên nhân hậu phía người dạy.

– Nguyên nhân hậu các ngành quản lý giáo dục và trường học.

– Nguyên nhân hậu các ngành quản lý nhà nước và địa phương.

– Cần phải phục vụ với nhu cầu học luôn chuyển đổi.

– Cần phải thích ứng và tạo ra các điều kiện, hoàn cảnh mới.

– Nhiều vấn đề mới đang đặt ra cho nhà trường phải khắc phục.

* Thay đổi từ bên trong

– Số lượng học trò tăng hay giảm.

– Chất lượng dạy học cao hay thấp so với yêu cầu và mong muốn.

– Hạ tầng, phương tiện thay đổi do xuống cấp hay có sự đầu tư mới.

– Năm học mới khác với năm học trước.

– Hàng ngũ cán bộ, thầy cô giáo, viên chức có sự biến động.

– Từ mối quan hệ biện chứng đó có thể tìm thấy các vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sự thay đổi giáo dục và quản lý trường học

− Khoa học – công nghệ tăng trưởng như “vũ bão” đã trình bày rõ nét ở ác yếu tố sau:

+ “Bùng nổ” thông tin và sự lỗi thời nhanh chóng của thông tin.

+ Việc sử dụng các thế hệ máy tính điện tử và các phương tiện công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống ngày càng được tăng thêm nhanh chóng.

+ Khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; việc ứng dụng các thành tựu mới của khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống đang là thời cơ và thử thách đối với tất cả quốc gia đang tăng trưởng và đối với con người của tất cả quốc gia đấy.

+ Sự tăng trưởng của khoa học-công nghệ với đặc điểm nói trên yêu cầu nhà trường phải có khả năng thích ứng với thông tin-công nghệ và phương tiện hiện đại.

− Nhà trường cần thay đổi để tạo điều kiện và phát huy khả năng tự học của HS, để họ có thể học suốt đời; đó là yêu cầu thế tất đối với con người trong thời đại ngày nay.

* Thay đổi từ bên ngoài

– Tuyển sinh thay đổi.

– Yêu cầu đầu ra (tốt nghiệp) thay đổi.

– Tình hình kinh tế – xã hội chuyển đổi.

– Yêu cầu đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện giáo dục.

– Môi trường địa phương có sự chuyển đổi.

3/ Sự cần thiết phải thay đổi

Thay đổi là một quá trình tự nhiên. Con người luôn sống với sự thay đổi từ trẻ sơ sinh tới trưởng thành và tuổi già; trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người thay đổi theo thời kì; nền giáo dục và trường học cũng thay đổi qua các thời kỳ…Thay đổi là thời cơ nhưng cũng là thử thách đối với cuộc đời của bất kỳ người nào, của bất kỳ tổ chức nào.

Xã hội nhưng mà chúng ta đang sống đã và đang ko ngừng thay đổi để tiến tới một xã hội thông tin và tri thức, nền kinh tế toàn cầu, yêu cầu phải xây dựng được lực lượng lao động “tư duy”. Để tồn tại và tăng trưởng trong thời đại ngày nay, đối với mỗi người khả năng tự học và học suốt đời đã trở thành yêu cầu thế tất và cần được rèn luyện từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Với bối cảnh của việc dạy học đã thay đổi, lúc giáo dục thu được sự quan tâm lớn cũng như yêu cầu cao từ phía số đông, các nhà trường phổ thông cần ko ngừng đổi mới trong tư duy và thực tiễn quản lý, tổ chức lại hoạt động, trình bày ở sự thay đổi trong cơ cấu quản lý, trong việc dạy và học, trong việc xác định rõ chuẩn về nội dung và kết quả giáo dục.

Trong nhà trường, sự thay đổi có thể có một trong hai loại chủ yếu như: Do yêu cầu của xã hội đặt ra cho nhà trường, yêu cầu nhà trường phải thay đổi, phải phục vụ hoặc do tự thân nhà trường thấy ko thay đổi thì khó lòng giải quyết được yêu cầu tồn tại và tăng trưởng. Để tăng lên chất lượng giáo dục, giáo dục trong trường phổ thông phải thay đổi theo hướng lấy người học làm trung tâm, tạo môi trường an toàn cho người học học tập, rèn luyện và tăng trưởng; khắc phục những trở ngại của sự thay đổi hiện nay đó là tư duy theo lối mòn, ngại thay đổi của thầy cô giáo và một số cán bộ quản lý giáo dục. Thay đổi có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có cả bất lợi. Vì vậy, cần nhận thức rõ tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của sự thay đổi để từ đó có giải pháp phát huy tác dụng tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.

Thay đổi là thế tất. Muốn hay ko muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, tích cực hơn. Vì thế, mỗi cán bộ, thầy cô giáo trong trường hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực. Biết chấp nhận sự thay đổi, chủ động dự đoán và tiếp cận sự thay đổi nhanh chóng là cách làm tốt nhất cho tương lai của nhà trường. Thực tiễn cho thấy có nhiều người ko nhất trí với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau. Họ thường tìm các lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi. Vì vậy, cán bộ quản lý cần có giải pháp thuyết phục, động viên kịp thời, chứng minh cho sự cần thiết và tính thế tất phải thay đổi để mọi người nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của sự thay đổi, từ đó có giải pháp thay đổi thích hợp. Nghiên cứu sự thay đổi, công việc lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường phổ thông hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nhằm tăng lên chất lượng giáo dục và huấn luyện là một việc làm quan trọng và cần thiết.

II/ NỘI DUNG CỤ THỂ

1/Mục tiêu

Nghiên cứu thực trạng lãnh đạo và quản lý sự thay đổi trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học …………….

2/Nội dung

Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài. Cụ thể là:

– Nghiên cứu lý thuyết về lãnh đạo và quản lý, Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự thay đổi trường học; lãnh đạo và quản lý sự thay đổi trường học trong bài giảng của thầy .

3/PP nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

– Phân tích, tổng hợp những tư liệu, tài liệu lý luận về lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường phổ thông trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp thăm dò: Dò xét khảo sát, lấy ý kiến của các nhà quản lý, các nhà giáo dục, thầy cô giáo

– Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động của cán bộ quản lý, thầy cô giáo và học trò trong trường nhằm nhận định thực trạng sự thay đổi ở trường

– Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn sâu các nhà quản lý, các nhà giáo dục, các thầy cô giáo tại ở trường

– Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tích lũy, lấy ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ quản lý có kinh nghiệm để định hướng cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học ……………….

– Phương pháp khảo nghiệm: Tổ chức khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi

Nhóm phương pháp xử lý số liệu

– Sử dụng một số phương pháp toán học như: Toán thống kê, tính trung bình cộng, tính tỉ lệ phần trăm…để xử lý số liệu thu được nhằm đảm bảo độ tin tưởng và tính khách quan

4/ Nôi dung giải pháp thực hiện:

+ Bước 1: Nhận diện sự thay đổi

Tìm hiểu số lượng và chất lượng hàng ngũ cán bộ, thầy cô giáo trong trường, hạ tầng trang thiết bị dạy học; trạng thái của nhà trường và thói quen, sức ỳ của thầy cô giáo đối với việc đổi mới phương pháp dạy học; xác định những thuận tiện, khó khăn lúc triển khai chủ trương đổi mới phương pháp dạy học.

+ Bước 2: Sẵn sàng sự thay đổi

– Mở màn bằng việc quán triệt chủ trương nhận định chất lượng ở trường trong thời đoạn hiện nay cho Ban Giám hiệu ở trường , lãnh đạo các Phòng Giáo dục quận, huyện trong thành thị. Cán bộ quản lý ở trường cần tìm hiểu kỹ việc nhận định chất lượng giáo dục ở trường, tác dụng của việc nhận định chất lượng giáo dục ở trường ; thứ tự lãnh đạo để bản thân có đủ tri thức để lãnh đạo vấn đề này trong thực tiễn nhà trường .

+ Bước 3: Tích lũy số liệu, dữ liệu

Ở bước này người cán bộ quản lý cần nắm được tình hình hàng ngũ cán bộ, thầy cô giáo trong trường; ý thức chuyên môn và ý thức đổi mới phương pháp dạy học của thầy cô giáo; tình hình thiết bị và điều kiện dạy học của nhà trường, v.v…

+ Bước 4: Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi

Tìm tiêu biểu tận tình tham gia đổi mới phương pháp dạy học trong trường để khích lệ phong trào; tạo điều kiện cho thầy cô giáo có thành tích tốt, hay tâm huyết với việc tìm hiểu việc đổi mới phương pháp dạy học đi thăm quan học tập tại một số trường điểm; cử thầy cô giáo đi tập huấn theo chương trình của dự án; phục vụ tối đa yêu cầu trong điều kiện có thể của thầy cô giáo xung phong tiên phong trong việc đổi mới phương pháp; tạo cơ chế hỗ trợ các nguồn lực và khích lệ việc đổi mới phương pháp, v.v…

+ Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước lãnh đạo sự thay đổi

Xác định mục tiêu ở bước thử nghiệm là xem xét khả năng vận dụng tư tưởng đổi mới phương pháp dạy học cho một vài tiết của một vài thầy cô giáo nêu trên. Bước tiếp theo sẽ được tiếp tục sau lúc phân tích thành công, thất bại của bước thử nghiệm và lựa chọn bước đi tiếp theo.

Xem xét tiến độ triển khai thích hợp với từng thời đoạn nhưng kiên trì với mục tiêu cuối cùng là đưa việc đổi mới phương pháp dạy học vào chương trình hành động hàng năm và duy trì trong khoảng thời gian dài.

+ Bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu

Trọng tâm của mục tiêu là đổi mới hình thức triển khai và phát huy hiệu quả của các phương pháp dạy học thân thuộc, đồng thời vận dụng từng bước các phương pháp dạy học hiện đại.

+ Bước 7: Xem xét các giải pháp

Thông thường, để lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học người quản lý có thể sử dụng một số giải pháp xúc tiến như: Động viên, khuyến khích ý thức, vật chất hay liên kết cả hai; hướng dẫn, lãnh đạo sát sao, yêu cầu cụ thể đối với từng thầy cô giáo tham gia vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở những bộ môn cụ thể, từng giờ học cụ thể; phân phối, hỗ trợ các điều kiện nguồn lực; nhận định kịp thời, khách quan mức độ thực hiện các nội dung và tiêu chí đề ra cho từng hoạt động, từng thời đoạn; khen – chê, thưởng – phạt kịp thời, công minh.

+ Bước 8: Lựa chọn giải pháp

Việc lựa chọn giải pháp thích hợp được hiệu trưởng xác định là nó phải phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể.

+ Bước 9: Lập kế hoạch lãnh đạo việc thực hiện

Quán triệt chủ trương, phổ quát các văn bản lãnh đạo; thảo luận khả năng và giải pháp triển khai chủ trương đổi mới phương pháp của trường; tạo điều kiện cho thầy cô giáo triển khai; tổ chức dự giờ, nhận định, rút kinh nghiệm theo tiêu chí cụ thể của đổi mới phương pháp.

+ Bước 10: Nhận định sự thay đổi

Nhận định sự thay đổi nhận thức về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học; thay đổi cách soạn bài theo hướng đổi mới phương pháp dạy học; thay đổi cách tổ chức giờ dạy theo hướng sư phạm tích cực; thay đổi cách nhận định kết quả lĩnh hội của học trò, v.v…

+ Bước 11: Đảm bảo tiếp tục đổi mới

Việc đổi mới phương pháp dạy học được đưa vào kế hoạch hành động của thầy cô giáo, các tổ bộ môn và của nhà trường.

5/ Kết luận

Luật Giáo dục Việt Nam đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học trò tăng trưởng toàn diện về đạo đức, trí thệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, tăng trưởng năng lực tư nhân, tính năng động và thông minh, tạo nên tư cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, sẵn sàng cho học trò tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Thay đổi là thế tất. Muốn hay ko muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, tích cực hơn. Vì thế, mỗi cán bộ, thầy cô giáo trong trường hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực. Biết chấp nhận sự thay đổi, chủ động dự đoán và tiếp cận sự thay đổi nhanh chóng là cách làm tốt nhất cho tương lai của nhà trường. Thực tiễn cho thấy có nhiều người ko nhất trí với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau. Họ thường tìm các lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi. Vì vậy, cán bộ quản lý cần có giải pháp thuyết phục, động viên kịp thời, chứng minh cho sự cần thiết và tính thế tất phải thay đổi để mọi người nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của sự thay đổi, từ đó có giải pháp thay đổi thích hợp. Nghiên cứu sự thay đổi, công việc lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường phổ thông hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nhằm tăng lên chất lượng giáo dục và huấn luyện là một việc làm quan trọng và cần thiết.

Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Quản lý sự thay đổi trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường………….” để nghiên cứu, ứng dụng trong quá trình được học bộ môn lãnh đạo và quản lý sự thay đổi vận dụng vào thực tiễn hoạt động và công việc tại trường. Đặc thù và trân trọng cảm ơn thầy.

Người viết

2. Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 2

Câu hỏi: Nội dung chủ yếu trong công việc tư vấn của lãnh đạo cấp phòng? Phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả công việc tư vấn trong lĩnh vực công việc đang đảm nhiệm? Những trắc trở trở ngại thường gặp phải lúc thực hiện tính năng tư vấn của lãnh đạo cấp phòng và đề xuất giải pháp khắc phục?

NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CÔNG TÁC THAM MƯU CỦA LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG

Trong bộ máy quản lý nhà nước, phòng là một cấp. Tác dụng chung của cấp phòng là chuyển tải và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp trên trực tiếp và phản ánh những yêu cầu, ước vọng, đề xuất của công chức đơn vị với lãnh đạo cấp trên. Trong quan hệ với các chủ trương chính sách của Nhà nước, phòng là một cấp có tính năng tư vấn triển khai. Về vị trí, Phòng là tổ chức chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ của một cơ quan, đơn vị. Phòng được cơ cấu trong tổ chức cấp bộ, tổng cục, cục, sở, ngành cấp huyện và trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước ở Trung ương.

Nội dung công việc của phòng là các lĩnh vực có tính chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ. Do vị trí, cấp độ phòng không giống nhau nên nhiệm vụ cụ thể của phòng ở mỗi cấp không giống nhau. Nhiệm vụ, quyền hạn của lãnh đạo phòng chủ yếu tập trung vào hai mảng: (i) Chỉ huy thực hiện chủ trương, chính sách, quyết định quản lý của cấp trên; (ii) Tham vấn công việc cho lãnh đạo.

Phòng có tính năng tư vấn, giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực thích hợp với tính năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao.

Theo TS. Trần Đình Huỳnh: “Tham vấn là lúc một tổ chức hoặc một tư nhân tham gia (tham gia) vào việc đề xuất thiết kế một kế hoạch, một chương trình và tổ chức thực hiện (xây cất) các kế hoạch, chương trình của một chủ thể quyền lực lãnh đạo, quản lý nhất mực”. Tham vấn ko chỉ là tham gia, đề xuất chủ trương cho người lãnh đạo, quản lý cấp mình, nhưng mà còn là hướng dẫn và lãnh đạo thực hiện về lĩnh vực mình gánh vác cho cấp lãnh đạo và quản lý và cơ quan tư vấn cấp dưới. Trên cơ sở tính năng, nhiệm vụ, người lãnh đạo phòng cụ thể hóa nội dung cần tư vấn cho cấp trên gồm: (i) Tham vấn trong xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và thứ tự quản lý; (ii) Tham vấn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công việc của phòng; (iii) Tham mưu mẹo hoạch và giải pháp rà soát, giám sát thực hiện để kịp thời điều chỉnh kế hoạch, hoạt động và nguồn lực; (iv) Tham vấn phối hợp trong triển khai thực hiện các đề án, kế hoạch chung.

Xét cả về tính năng tham gia lẫn tính năng hướng dẫn tổ chức thực hiện thì cơ quan và công chức tư vấn đều có tính chất lãnh đạo, quản lý và đồng thời phải cùng chịu trách nhiệm với người lãnh đạo, quản lý về lĩnh vực mình tư vấn. Ko nên hiểu thuần tuý tư vấn chỉ là giúp việc, là bảo sao làm vậy. Tham vấn có trách nhiệm thì đồng thời phải có quyền hạn.

Người lãnh đạo phòng làm công việc tư vấn cần có khả năng, hiểu biết và một hệ tiêu chuẩn cụ thể. Một số yêu cầu cụ thể đối với công việc tư vấn của lãnh đạo phòng bao gồm: (i)Tham vấn phải đảm bảo tính thích hợp pháp luật, phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức; (i)Trung thực và chuẩn xác với thái độ nghiêm túc trong công việc; (iii)Tham vấn phải kịp thời, có tính nguyên tẳc cao, nhưng xem xét khắc phục công việc cụ thể với thái độ khách quan, biện chứng; (iv)Tham vấn phải đầy đủ, toàn diện, song ko thành kiến, hẹp hòi, ko thủ cựu. Tham vấn phải góp phần tạo nên, củng cố và tăng trưởng văn hóa của tổ chức, hoàn thiện thứ tự công việc và phát huy tiềm năng của mọi thành viên, đóng góp vào thành công của phòng nói riêng và cơ quan nói chung; (v)Tham vấn đồng thời phải góp phần tăng lên hiệu quả phối hợp công việc giữa các phòng, các tư nhân trong tổ chức, đơn vị, cũng như tăng lên hiệu qưả phối hợp công việc giữa các đơn vị trong và ngoài ngành…

Do vậy, người lãnh đạo phòng làm công việc tư vấn phải có năng lực chuyên môn sâu, tinh thông về lĩnh vực mình gánh vác, với tính nhiều năm kinh nghiệm cao. Tài năng và trách nhiệm của tư vấn là khả năng chuyên sâu để đưa ra các phương án, kế hoạch, chương trình, các phương án và tính toán dự đoán có căn cứ về tính hiệu quả và hệ quả của từng chương trình, phương án. Ngoài ra, để thực hiện tốt công việc tư vấn, lãnh đạo phòng cần có các kỹ năng: (i)Kỹ năng phát hiện và lựa chọn vấn đề; (ii)Kỹ năng sẵn sàng thông tin, căn cứ, lỹ lẽ; (iii)Kỹ năng lựa chọn thời kì và vị trí; (iv)Kỹ năng lựa chọn phương pháp và dự kiến kết quả; (v)Kỹ năng trình diễn và thuyết phục.

Trong công việc tư vấn, lãnh đạo phòng cần tuân thủ các nguyên tắc sau: (i) Tham vấn phải căn cứ vào tính năng, nhiệm vụ, quyền hạn được cấp có thẩm quyền giao; (ii)Tham vấn phải nhằm thực hiện cho được các mục tiêu của đơn vị và của cấp phòng. Tuyệt đối ko để đầu óc vụ lợi, thiên vị, xen lẫn động cơ tư nhân; (iii)Tham vấn phải tuân thủ theo đúng pháp luật; (iv)Phải dựa trên cơ sở khoa học, khách quan; (v)Trung thành với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, phấn đấu vì hôm nay và tương lai tốt đẹp của tổ quốc.

Tóm tại, tư vấn là một nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo phòng, công việc tư vấn là một nghề chuyên sâu, có tính nhiều năm kinh nghiệm cao. Lãnh đạo phòng phải có hiểu biết, kỹ năng, năng lực để thực hiện tốt nhiệm vụ tư vấn theo những yêu cầu và nguyên tắc nhất mực.

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THAM MƯU TRONG LĨNH VỰC CÔNG TÁC

Để thực hiện tốt công việc tư vấn, người lãnh đạo phòng cần phải tích lũy và xử lý thông tin chuẩn xác để nắm bắt rõ vấn đề cần tư vấn, có kỹ năng soạn thảo và quản lý văn bản khoa học và kỹ năng trình diễn, thuyết phục để có thể tham gia đề xuất chủ trương cho người lãnh đạo, quản lý cấp mình, đồng thời hướng dẫn và lãnh đạo thực hiện về lĩnh vực mình gánh vác cho cấp lãnh đạo và quản lý và cơ quan tư vấn cấp dưới. Ngoài các yếu tố chủ quan về phía người lãnh đạo, trong thực tiễn còn có các yếu tố tác động tới công việc tư vấn là thời kì xử lý công việc quá gấp hoặc có nhiều vấn đề đồng thời phải xử lý tác động tới hiệu quả công việc tư vấn.

1. Tích lũy và xử lý thông tin

a) Tích lũy thông tin

Lúc thực thi hoạt động công vụ, điều quan trọng là có được các thông tin và dữ liệu thích hợp, cần thiết phục vụ cho công việc của bản thân và của cơ quan, đơn vị, qua đó đóng góp cho việc hoàn thành mục tiêu chung. Tuy nhiên do các thông tin của sự vật, hiện tượng cần thống kê thường thay đổi theo thời khắc thống kê, để có thông tin chuẩn xác cần nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa, rà soát thực tiễn, phỏng vấn, dùng phiếu thăm dò… Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, do đó cần phối hợp các phương pháp một cách thích hợp để có được thông tin chuẩn xác, tin tưởng, nhanh chóng, tiết kiệm.

b) Xử lý thông tin

Thông tin sau lúc tích lũy dù đảm bảo tính chuẩn xác nhưng chưa thể tư vấn ngay được nhưng mà cần được tổng hợp, phân loại thông tin theo các lĩnh vực, theo mục tiêu quản lý để có được kết luận về thực trạng, tình hình vấn đề cần tư vấn. Lúc này thông tin đã trở thành dữ liệu, tức là từ những đơn vị nhỏ trở thành những đơn vị phân tích lớn hơn (ví dụ các thông tin từ các điểm trường, các trường trở thành thông tin các ngành học) cần được lưu trữ dưới dạng thích hợp để phân tích. Điều quan trọng là sắp xếp dữ liệu dưới dạng hệ thống và mang tính tổng quát. Để làm được điều này cần có những bảng biểu hoặc mẫu báo cáo được thiết kế thích hợp, bao quát được những thông tin có thể có để đảm bảo việc tổng hợp được nhanh chóng.

Trong tích lũy thông tin định lượng (số liệu) sẽ rất hữu ích lúc ứng dụng CNTT với các bảng biểu được thiết kế trên ứng dụng và các đơn vị cơ sở chỉ cần nhập thông tin theo biểu mẫu có sẵn. Đối với những thông tin ở dạng định tính, sau lúc được tích lũy qua các báo cáo, các phiếu khảo sát cần được tổng hợp và phân tích theo những phương pháp khoa học để tránh việc nhận định chủ quan. Việc tổng hợp thông tin cuối cùng được hệ thống trong một báo cáo tổng quan và lãnh đạo phòng phải kiểm soát được tính chuẩn xác, khoa học của thông tin ở báo cáo cuối cùng này trước lúc tư vấn.

2. Soạn thảo và quản lý văn bản

a) Soạn thảo văn bản

Kết quả của công việc tư vấn thường là một văn bản xây dựng, bổ sung, hoàn thiện, lãnh đạo, quản lý…các cơ chế chính sách, thứ tự quản lý hoặc văn bản kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, rà soát, giám sát…việc thực hiện các đề án, kế hoạch. Nếu kỹ năng soạn thảo văn bản ko tốt sẽ làm chậm trễ thời kì trong tư vấn, kéo dài thời kì trong các thủ tục hành chính; các văn bản ko đúng thể thức, nội dung khó hiểu còn làm tác động tới hiệu quả quản lý của cấp trên và tác động trực tiếp tới tính năng lãnh đạo, hướng dẫn trong tư vấn của lãnh đạo cấp phòng.

Do đó trong quá trình tư vấn lãnh đạo phòng cần phải làm chủ các kỹ năng soạn thảo, các quy định về trình diễn văn bản hành chính (theo Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình diễn văn bản hành chính); quy định về trình diễn văn bản quy phi pháp luật (theo Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phi pháp luật năm 2015); về trình diễn các văn bản chuyên ngành trong lĩnh vực tài chính kế toán, lĩnh vực xây dựng theo các quy định của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng.

b) Quản lý văn bản

Trong công việc tư vấn cần căn cứ vào các văn bản quy định, các văn bản lãnh đạo quản lý của cấp trên, văn bản phân phối thông tin số liệu của cấp dưới, trong các văn bản được lưu giữ…; trong mỗi công việc cụ thể có rất nhiều văn bản liên quan và theo thời kì những văn bản cần lưu giữ càng phức tạp cả về số lượng lẫn chủng loại. Do đó để có căn cứ thực hiện công việc tư vấn cần phải quản lý tốt văn bản đi, văn bản tới và xây dựng hồ sơ văn bản một cách khoa học, hợp lý.

3. Trình diễn và thuyết phục

Đê thực hiện công việc tư vấn, lãnh đạo phòng thường xuyên phải báo cáo, trình diễn, đề xuất và kiến nghị với cấp trên trực tiếp, hoặc công chức quản lý của các cơ quan, đơn vị liên quan. Do vậy, lúc trình diễn bằng lời nói đôi lúc có một số khó khăn nhỏ lúc lãnh đạo ko có nhiều thời kì để nghe trình diễn hoặc áp đặt ý kiến của lãnh đạo. Ngoài ra, trong lúc trao đổi công việc với cấp dưới, nếu trình diễn rõ ràng và thuyết phục sẽ tăng được hiệu quả trong công việc quản lý. Tuy nhiên đây ko phải là vấn đề then chốt, yêu cầu người viên chức cần trau dồi hơn nữa về kỹ năng thuyết phục và trình diễn nội dung tư vấn.

Trong trình diễn cần xem xét yếu tố cấp bậc, chức vụ của nhân vật lắng tai. Lúc trình diễn với cấp trên, nên làm rõ các điểm, ý chính, trao đổi chuẩn xác và chú ý lắng tai/ghi chép những nhận xét, ý kiến của cấp trên. Lúc nói chuyện với cấp dưới, xoành xoạch giảng giải cụ thể các vấn đề và lấy ý kiến viên chức cấp dưới xem họ suy nghĩ và phản hồi thế nào về vấn đề đó.

4. Có nhiều vấn đề cùng một lúc cần phải xử lý

Trong quá trình tư vấn có nhiều công việc trong kế hoạch tới hạn phải tư vấn và nhiều công việc đột xuất xảy ra phải khắc phục, tương tự sẽ tác động tới hiệu quả, chất lượng, tiến độ của quá trình tư vấn.

5. Thời kì khắc phục công việc

Thỉnh thoảng các nội dung yêu cầu tư vấn có thời hạn xử lý ngắn điều đó sẽ tác động tới chất lượng của văn bản tư vấn. Thời kì dành cho việc tích lũy, cập nhật thông tin ít dẫn tới số liệu, dẫn chứng chưa đủ sức thuyết phục.

III. NHỮNG KHÓ KHĂN TRỞ NGẠI THƯỜNG GẶP KHI THỰC HIỆN CHỨC NĂNG THAM MƯU CỦA LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

1. Khó khăn trở ngại trong thực hiện tính năng tư vấn

Có nhiều khó khăn trở ngại từ nhiều phái lúc thực hiện tính năng tư vấn của lãnh đạo cấp phòng tuy nhiên có một số khó khăn cản trở chính sau:

a) Nguyên nhân chủ quan

Người lãnh đạo cấp phòng làm công việc tư vấn ko có đủ trình độ tri thức chuyên môn (yếu chuyên môn) vì vậy người lãnh đạo, quản lý cấp phòng ko có trình độ chuyên môn tốt sẽ ko có khả năng phối hợp chuyên môn với các thành viên trong phòng. Hay nói cách khác, người lãnh đạo ko có chuyên môn sẽ ko có yếu tố để tác động tới người khác, ko thuyết phục được người khác, ko thu hút người khác.

Người lãnh đạo cấp phòng ko đủ phẩm chất chính trị, lập trường tư tưởng ko vững vàng, tư vấn trái chủ trương, đường lối của Đảng, ko đúng quy định của pháp luật vì vậy tư vấn ko chuẩn.

Người lãnh đạo cấp phòng ko đủ về kỹ năng kinh nghiệm. Năng lực lãnh đạo của nhà lãnh đạo, quản lý cấp phòng được tăng trưởng qua kinh nghiệm thực tiễn, qua những cọ xát, thử thách với công việc hàng ngày. Từ những nền tảng lý thuyết liên kết với thực tiễn của chính bản thân, người lãnh đạo có những quyết định đúng mực xử lý các tình huống xảy ra trong hoạt động của phòng. Nếu thiếu kinh nghiệm này thì người lãnh đạo cấp phòng sẽ gặp những trắc trở như ko biết diễn tả bằng văn bản, thuyết phục ko được hoặc thuyết phục ko đúng lúc, đúng chỗ.

Nếu người lãnh đạo cấp phòng là người hẹp hòi, ích kỷ chỉ đặt lợi ích tư nhân lên trên hết nhưng mà ko nghĩ tới lợi ích chung thì việc tư vấn sẽ ko đạt được hiệu quả.

b) Nguyên nhân khách quan

Từ phía người được tư vấn: Quản lý cấp trên được tư vấn nếu là người độc đoán, cố chấp, thủ cựu, quan liêu… sẽ ko chịu nghe ý kiến tư vấn từ cấp dưới chính vì vậy sẽ ko phát huy được tính thông minh và kinh nghiệm của cấp dưới. Không những thế, năng lực của viên chức trong phòng hoặc cấp cơ sở hạn chế cũng tác động tới công việc tư vấn, dẫn tới quá trình tư vấn chậm trễ, thiếu chuẩn xác hoặc thực hiện ko đạt yêu cầu.

Về cơ chế quản lý, lãnh đạo cấp phòng ko có quyền hạn trực tiếp trong việc tuyển dụng, huấn luyện, khen thưởng, điều chuyển, sa thải… viên chức thuộc lĩnh vực quản lý của mình dẫn tới những bất cập trong hàng ngũ ko được khắc phục triệt để.

Ngoài ra còn có cản trở từ các yếu tố khác như: bối cảnh kinh tế, chính trị chi phối, sự bất cập trong các văn bản lãnh đạo quản lý, sự chậm trễ trong các thủ tục hành chính… khiến nội dung tư vấn ko thể thực hiện được.

2. Giải pháp khắc phục

a) Về phía người tư vấn

Luôn vững ý thức và ý kiến lúc tư vấn phải nghĩ tới lợi ích chung. Tăng cường hiểu biết sâu về chuyên môn, nghiệp vụ để tư vấn có hiệu quả. Người lãnh đạo có trình độ chuyên môn tốt sẽ là tấm gương cho các thành viên khác noi theo, có khả năng phối hợp chuyên môn với các thành viên khác, sử dụng chuyên môn như một yếu tố tác động tới người khác, thu hút người khác theo mình, là người cầm cân nảy mực.

Nắm vững chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, các quyết định của Nhà nước để tư vấn cho đúng.

Tăng cường các kỹ năng để phục vụ cho công việc tư vấn như: soạn thảo văn bản, kỹ năng thuyết trình, thuyết phục…

b) Về phía người được tư vấn:

Cần có cái nhìn biện chứng, tránh thành kiến vì điều này tạo nên những hậu quả ko tốt, một mặt nó làm cho người dưới quyền chống lại sức lãnh đạo ở mức độ trực tiếp hoặc gián tiếp. Mặt khác nó làm cắt bớt sự tham gia của các thành viên lúc khắc phục các công việc của đơn vị.

Người được tư vấn cần có kỹ năng nghe thật tốt, phải biết lắng tai, biết chọn lựa các ý kiến được tư vấn để đưa ra những quyết định hiệu quả nhất.

Viên chức của phòng phải tăng lên ý thức chủ động trong công việc, tự học tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ phục vụ yêu cầu vị trí việc làm.

Hoàn thiện đồng bộ cơ chế tổ chức, tuyển dụng, sắp xếp sử dụng cán bộ, xây dựng cơ chế đặc thù riêng cho cán bộ, chuyên viên có năng lực trong bộ máy tư vấn theo hướng khuyến khích nhân sự chất lượng cao, linh hoạt trong bổ nhiệm, tuyển dụng./.

Mời các bạn tải file về để xem cụ thể bài thu hoạch lãnh đạo cấp phòng.

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục Bài thu hoạch trong mục tài liệu nhé.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục


Xem thêm chi tiết: Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Hình Ảnh về: Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Video về: Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Wiki về Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021 -

Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng 2021 đưa ra nội dung, phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả công việc tư vấn trong lĩnh vực công việc đang đảm nhiệm và những trắc trở cũng như đề xuất giải pháp.

  • Bài thu hoạch nghị quyết Trung Ương 5 khóa XII của Đảng viên
  • Bài thu hoạch chính trị hè
  • Mẫu bìa bài thu hoạch

Bài thu hoạch kỹ năng lãnh đạo cấp phòng

  • 1. Bài thu hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 1
  • 2. Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 2

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 1

I/ NHẬN THỨC VỀ QUẢN LÝ SỰ THAY ĐỔI

1/ Ý nghĩa:

Bạn đang xem: Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng 2021

Lãnh đạo sự thay đổi là một tiến trình xây dựng cầu nối giữa tầm nhìn và hành động, các nhà quản lý thường quyết tâm thực hiện sự thay đổi nhưng mà chưa chú ý tới chiến lược của sự thay đổi. Trong nhiều tình huống mọi người ko đón nhận sự thay đổi nhưng mà thay vào đó họ thường có thái độ phản kháng.Chuyên đề sẽ giúp ta nắm được hình thức và hướng khắc phục những trắc trở gặp phải trong quá trình thực hiện sự thay đổi.

Ở Việt Nam, lãnh đạo và quản lý sự thay đổi là một vấn đề khá mới mẻ nhưng cũng đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học. Trong cuốn “Quản lý sự thay đổi”, sách bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục của dự án huấn luyện thầy cô giáo THCS, PGS.TS Đặng Xuân Hải đã nghiên cứu và cụ thể hóa các bước của quá trình quản lý sự thay đổi như sau:

Bước 1: Nhận diện sự thay đổi;

Bước 2: Sẵn sàng cho sự thay đổi;

Bước 3: Tích lũy số liệu, dữ liệu;

Bước 4: Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi;

Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước lãnh đạo sự thay đổi;

Bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu;

Bước 7: Xem xét các giải pháp;

Bước 8: Lựa chọn giải pháp;

Bước 9: Lập kế hoạch lãnh đạo việc thực hiện;

Bước 10: Nhận định sự thay đổi;

Bước 11: Đảm bảo tiếp tục đổi mới

2/ Lãnh đạo và quản lý sự thay đổi:

2.1/ Thay đổi là gì: Thay đổi là quá trình vận động do tác động, tác động qua lại của sự vật, hiện tượng, của các yếu tố bên trong và bên ngoài; thay đổi là tính chất chung của bất kì sự vật hiện tượng nào. Hay nói cách khác đơn giản hơn thay đổi là “Làm cho khác đi hay trở thành khác đi”

Những tác nhân gây ra sự thay đổi:

− Thay đổi về xã hội: chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách…

− Thay đổi về kinh tế: nông nghiệp dịch chuyển sang công nghiệp và dịch vụ, đổi mới phương tiện, dụng cụ, thay đổi công nghệ…

− Thay đổi về khoa học – công nghệ: vi tính, công nghệ thông tin…

− Thay đổi về giáo dục: chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện, hạ tầng trường học…

2.2 / Thay đổi bao gồm cả sự chuyển đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu

− Số lượng người học tăng lên hay giảm đi.

− Chất lượng giáo dục so với chuẩn là cao hay thấp.

− Cơ cấu đủ hay thừa, thiếu.

− Hạ tầng, phương tiện thay đổi.

− Tài chính tăng hay giảm.

− Thầy cô giáo, cán bộ, viên chức thay đổi.

2.3 / Thay đổi được hiểu ở các mức độ không giống nhau

− Cải tiến là tăng lên hay giảm đi những yếu tố nào đó của sự vật để cho thích hợp hơn; ko phải là sự thay đổi về thực chất.

− Đổi mới là thay cái cũ bằng cái mới; làm phát sinh sự vật mới; còn được hiểu là canh tân; là sự thay đổi về thực chất của sự vật.

− Cải cách là loại trừ cái cũ, bất hợp lý của sự vật thành cái mới có thể thích hợp với tình hình khách quan; là sự thay đổi về thực chất nhưng toàn diện và triệt để hơn so với đổi mới.

− Cách mệnh là sự thay đổi trọng đại, chuyển đổi tận gốc; là sự thay đổi cơ bản.

2.4 / Thay đổi một cách tiêu cực

− Ko có sự sẵn sàng trước, bị tác động một cách tự nhiên, bột phát.

− Ko dự kiến được hậu quả.

− Ko biết là cần thiết hay ko cần thiết.

2.5 / Chủ động thay đổi

− Dự kiến được kết quả.

− Biết được sự cần thiết.

− Có sự sẵn sàng trước, dự đoán được tương lai.

2.6/ Mong muốn thay đổi

– Học có hiệu quả và thích hợp hơn với tư nhân và số đông.

– Ước muốn của gia đình và số đông đối với việc học, đối với nhà trường.

– Nhu cầu học nhiều chủng loại và phong phú hơn.

2.7/ Đón nhận sự thay đổi

– Nhận mặt và tìm được những người muốn thay đổi;

– Hãy linh động với họ và trở thành đồng minh với họ!

– Nhận thấy tác dụng của thay đổi

– Nhận rõ sự thay đổi có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực

– Thời cơ thay đổi cũng đồng thời với thử thách lúc thay đổi

– Các điều kiện cần và đủ cho sự thay đổi có thể chưa rõ ràng

– Những người đồng ý thay đổi có thể còn quá ít

– Thay đổi có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có cả bất lợi

– Thay đổi là một quá trình tựnhiên

– Con người luôn sống với sự thay đổi: Từ trẻ sơ sinh tới trưởng thành và tuổi già. Trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người cũng thay đổi theo thời kì.

– Giáo dục và trường học của Việt Nam cũng thay đổi qua các thời kì. Thay đổi là thế tất. Muốn hay ko muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ hiệu quả hơn, tích cực hơn. Hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực! Cần thay đổi – phải thay đổi – nên thay đổi – có thể thay đổi.

2.8 / Phản kháng sự thay đổi

– Có thể có nhiều người ko nhất trí với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau.

– Người phản kháng thường hay tìm các lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi.

– Sự phản kháng sẽ giảm đi lúc sự thay đổi có tác dụng tích cực nào đó.

– Cần thuyết phục, lôi kéo và chứng minh cho sự thay đổi.

2.9/ Nguyên nhân của sự thay đổi trường học

– Trường học có mối quan hệ biện chứng với nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, như:

– Các nguyên nhân xã hội, kinh tế, khoa học – công nghệ.

– Nguyên nhân hậu phía người học.

– Nguyên nhân hậu phía người dạy.

– Nguyên nhân hậu các ngành quản lý giáo dục và trường học.

– Nguyên nhân hậu các ngành quản lý nhà nước và địa phương.

– Cần phải phục vụ với nhu cầu học luôn chuyển đổi.

– Cần phải thích ứng và tạo ra các điều kiện, hoàn cảnh mới.

– Nhiều vấn đề mới đang đặt ra cho nhà trường phải khắc phục.

* Thay đổi từ bên trong

– Số lượng học trò tăng hay giảm.

– Chất lượng dạy học cao hay thấp so với yêu cầu và mong muốn.

– Hạ tầng, phương tiện thay đổi do xuống cấp hay có sự đầu tư mới.

– Năm học mới khác với năm học trước.

– Hàng ngũ cán bộ, thầy cô giáo, viên chức có sự biến động.

– Từ mối quan hệ biện chứng đó có thể tìm thấy các vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sự thay đổi giáo dục và quản lý trường học

− Khoa học – công nghệ tăng trưởng như “vũ bão” đã trình bày rõ nét ở ác yếu tố sau:

+ “Bùng nổ” thông tin và sự lỗi thời nhanh chóng của thông tin.

+ Việc sử dụng các thế hệ máy tính điện tử và các phương tiện công nghệ hiện đại vào sản xuất và đời sống ngày càng được tăng thêm nhanh chóng.

+ Khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; việc ứng dụng các thành tựu mới của khoa học – công nghệ vào sản xuất và đời sống đang là thời cơ và thử thách đối với tất cả quốc gia đang tăng trưởng và đối với con người của tất cả quốc gia đấy.

+ Sự tăng trưởng của khoa học-công nghệ với đặc điểm nói trên yêu cầu nhà trường phải có khả năng thích ứng với thông tin-công nghệ và phương tiện hiện đại.

− Nhà trường cần thay đổi để tạo điều kiện và phát huy khả năng tự học của HS, để họ có thể học suốt đời; đó là yêu cầu thế tất đối với con người trong thời đại ngày nay.

* Thay đổi từ bên ngoài

– Tuyển sinh thay đổi.

– Yêu cầu đầu ra (tốt nghiệp) thay đổi.

– Tình hình kinh tế – xã hội chuyển đổi.

– Yêu cầu đổi mới nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp, phương tiện giáo dục.

– Môi trường địa phương có sự chuyển đổi.

3/ Sự cần thiết phải thay đổi

Thay đổi là một quá trình tự nhiên. Con người luôn sống với sự thay đổi từ trẻ sơ sinh tới trưởng thành và tuổi già; trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người thay đổi theo thời kì; nền giáo dục và trường học cũng thay đổi qua các thời kỳ…Thay đổi là thời cơ nhưng cũng là thử thách đối với cuộc đời của bất kỳ người nào, của bất kỳ tổ chức nào.

Xã hội nhưng mà chúng ta đang sống đã và đang ko ngừng thay đổi để tiến tới một xã hội thông tin và tri thức, nền kinh tế toàn cầu, yêu cầu phải xây dựng được lực lượng lao động “tư duy”. Để tồn tại và tăng trưởng trong thời đại ngày nay, đối với mỗi người khả năng tự học và học suốt đời đã trở thành yêu cầu thế tất và cần được rèn luyện từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Với bối cảnh của việc dạy học đã thay đổi, lúc giáo dục thu được sự quan tâm lớn cũng như yêu cầu cao từ phía số đông, các nhà trường phổ thông cần ko ngừng đổi mới trong tư duy và thực tiễn quản lý, tổ chức lại hoạt động, trình bày ở sự thay đổi trong cơ cấu quản lý, trong việc dạy và học, trong việc xác định rõ chuẩn về nội dung và kết quả giáo dục.

Trong nhà trường, sự thay đổi có thể có một trong hai loại chủ yếu như: Do yêu cầu của xã hội đặt ra cho nhà trường, yêu cầu nhà trường phải thay đổi, phải phục vụ hoặc do tự thân nhà trường thấy ko thay đổi thì khó lòng giải quyết được yêu cầu tồn tại và tăng trưởng. Để tăng lên chất lượng giáo dục, giáo dục trong trường phổ thông phải thay đổi theo hướng lấy người học làm trung tâm, tạo môi trường an toàn cho người học học tập, rèn luyện và tăng trưởng; khắc phục những trở ngại của sự thay đổi hiện nay đó là tư duy theo lối mòn, ngại thay đổi của thầy cô giáo và một số cán bộ quản lý giáo dục. Thay đổi có thể mang lại lợi ích nhưng cũng có cả bất lợi. Vì vậy, cần nhận thức rõ tác dụng tích cực hoặc tiêu cực của sự thay đổi để từ đó có giải pháp phát huy tác dụng tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của nó.

Thay đổi là thế tất. Muốn hay ko muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, tích cực hơn. Vì thế, mỗi cán bộ, thầy cô giáo trong trường hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực. Biết chấp nhận sự thay đổi, chủ động dự đoán và tiếp cận sự thay đổi nhanh chóng là cách làm tốt nhất cho tương lai của nhà trường. Thực tiễn cho thấy có nhiều người ko nhất trí với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau. Họ thường tìm các lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi. Vì vậy, cán bộ quản lý cần có giải pháp thuyết phục, động viên kịp thời, chứng minh cho sự cần thiết và tính thế tất phải thay đổi để mọi người nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của sự thay đổi, từ đó có giải pháp thay đổi thích hợp. Nghiên cứu sự thay đổi, công việc lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường phổ thông hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nhằm tăng lên chất lượng giáo dục và huấn luyện là một việc làm quan trọng và cần thiết.

II/ NỘI DUNG CỤ THỂ

1/Mục tiêu

Nghiên cứu thực trạng lãnh đạo và quản lý sự thay đổi trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học …………….

2/Nội dung

Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài. Cụ thể là:

– Nghiên cứu lý thuyết về lãnh đạo và quản lý, Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về sự thay đổi trường học; lãnh đạo và quản lý sự thay đổi trường học trong bài giảng của thầy .

3/PP nghiên cứu

Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết

– Phân tích, tổng hợp những tư liệu, tài liệu lý luận về lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường phổ thông trong và ngoài nước để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

– Phương pháp thăm dò: Dò xét khảo sát, lấy ý kiến của các nhà quản lý, các nhà giáo dục, thầy cô giáo

– Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát hoạt động của cán bộ quản lý, thầy cô giáo và học trò trong trường nhằm nhận định thực trạng sự thay đổi ở trường

– Phương pháp đàm thoại: Phỏng vấn sâu các nhà quản lý, các nhà giáo dục, các thầy cô giáo tại ở trường

– Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tích lũy, lấy ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ quản lý có kinh nghiệm để định hướng cho việc xây dựng cơ sở lý luận của đề tài trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường tiểu học ……………….

– Phương pháp khảo nghiệm: Tổ chức khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi

Nhóm phương pháp xử lý số liệu

– Sử dụng một số phương pháp toán học như: Toán thống kê, tính trung bình cộng, tính tỉ lệ phần trăm…để xử lý số liệu thu được nhằm đảm bảo độ tin tưởng và tính khách quan

4/ Nôi dung giải pháp thực hiện:

+ Bước 1: Nhận diện sự thay đổi

Tìm hiểu số lượng và chất lượng hàng ngũ cán bộ, thầy cô giáo trong trường, hạ tầng trang thiết bị dạy học; trạng thái của nhà trường và thói quen, sức ỳ của thầy cô giáo đối với việc đổi mới phương pháp dạy học; xác định những thuận tiện, khó khăn lúc triển khai chủ trương đổi mới phương pháp dạy học.

+ Bước 2: Sẵn sàng sự thay đổi

– Mở màn bằng việc quán triệt chủ trương nhận định chất lượng ở trường trong thời đoạn hiện nay cho Ban Giám hiệu ở trường , lãnh đạo các Phòng Giáo dục quận, huyện trong thành thị. Cán bộ quản lý ở trường cần tìm hiểu kỹ việc nhận định chất lượng giáo dục ở trường, tác dụng của việc nhận định chất lượng giáo dục ở trường ; thứ tự lãnh đạo để bản thân có đủ tri thức để lãnh đạo vấn đề này trong thực tiễn nhà trường .

+ Bước 3: Tích lũy số liệu, dữ liệu

Ở bước này người cán bộ quản lý cần nắm được tình hình hàng ngũ cán bộ, thầy cô giáo trong trường; ý thức chuyên môn và ý thức đổi mới phương pháp dạy học của thầy cô giáo; tình hình thiết bị và điều kiện dạy học của nhà trường, v.v…

+ Bước 4: Tìm các yếu tố khích lệ, hỗ trợ sự thay đổi

Tìm tiêu biểu tận tình tham gia đổi mới phương pháp dạy học trong trường để khích lệ phong trào; tạo điều kiện cho thầy cô giáo có thành tích tốt, hay tâm huyết với việc tìm hiểu việc đổi mới phương pháp dạy học đi thăm quan học tập tại một số trường điểm; cử thầy cô giáo đi tập huấn theo chương trình của dự án; phục vụ tối đa yêu cầu trong điều kiện có thể của thầy cô giáo xung phong tiên phong trong việc đổi mới phương pháp; tạo cơ chế hỗ trợ các nguồn lực và khích lệ việc đổi mới phương pháp, v.v…

+ Bước 5: Xác định mục tiêu cụ thể cho các bước lãnh đạo sự thay đổi

Xác định mục tiêu ở bước thử nghiệm là xem xét khả năng vận dụng tư tưởng đổi mới phương pháp dạy học cho một vài tiết của một vài thầy cô giáo nêu trên. Bước tiếp theo sẽ được tiếp tục sau lúc phân tích thành công, thất bại của bước thử nghiệm và lựa chọn bước đi tiếp theo.

Xem xét tiến độ triển khai thích hợp với từng thời đoạn nhưng kiên trì với mục tiêu cuối cùng là đưa việc đổi mới phương pháp dạy học vào chương trình hành động hàng năm và duy trì trong khoảng thời gian dài.

+ Bước 6: Xác định trọng tâm của các mục tiêu

Trọng tâm của mục tiêu là đổi mới hình thức triển khai và phát huy hiệu quả của các phương pháp dạy học thân thuộc, đồng thời vận dụng từng bước các phương pháp dạy học hiện đại.

+ Bước 7: Xem xét các giải pháp

Thông thường, để lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học người quản lý có thể sử dụng một số giải pháp xúc tiến như: Động viên, khuyến khích ý thức, vật chất hay liên kết cả hai; hướng dẫn, lãnh đạo sát sao, yêu cầu cụ thể đối với từng thầy cô giáo tham gia vào việc đổi mới phương pháp dạy học ở những bộ môn cụ thể, từng giờ học cụ thể; phân phối, hỗ trợ các điều kiện nguồn lực; nhận định kịp thời, khách quan mức độ thực hiện các nội dung và tiêu chí đề ra cho từng hoạt động, từng thời đoạn; khen – chê, thưởng – phạt kịp thời, công minh.

+ Bước 8: Lựa chọn giải pháp

Việc lựa chọn giải pháp thích hợp được hiệu trưởng xác định là nó phải phụ thuộc vào từng hoàn cảnh cụ thể.

+ Bước 9: Lập kế hoạch lãnh đạo việc thực hiện

Quán triệt chủ trương, phổ quát các văn bản lãnh đạo; thảo luận khả năng và giải pháp triển khai chủ trương đổi mới phương pháp của trường; tạo điều kiện cho thầy cô giáo triển khai; tổ chức dự giờ, nhận định, rút kinh nghiệm theo tiêu chí cụ thể của đổi mới phương pháp.

+ Bước 10: Nhận định sự thay đổi

Nhận định sự thay đổi nhận thức về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học; thay đổi cách soạn bài theo hướng đổi mới phương pháp dạy học; thay đổi cách tổ chức giờ dạy theo hướng sư phạm tích cực; thay đổi cách nhận định kết quả lĩnh hội của học trò, v.v…

+ Bước 11: Đảm bảo tiếp tục đổi mới

Việc đổi mới phương pháp dạy học được đưa vào kế hoạch hành động của thầy cô giáo, các tổ bộ môn và của nhà trường.

5/ Kết luận

Luật Giáo dục Việt Nam đã chỉ rõ: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học trò tăng trưởng toàn diện về đạo đức, trí thệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, tăng trưởng năng lực tư nhân, tính năng động và thông minh, tạo nên tư cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, sẵn sàng cho học trò tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Thay đổi là thế tất. Muốn hay ko muốn thì trường học vẫn thay đổi. Nếu biết lãnh đạo và quản lý sự thay đổi thì sẽ mang lại hiệu quả cao hơn, tích cực hơn. Vì thế, mỗi cán bộ, thầy cô giáo trong trường hãy đón nhận sự thay đổi một cách chủ động và tích cực. Biết chấp nhận sự thay đổi, chủ động dự đoán và tiếp cận sự thay đổi nhanh chóng là cách làm tốt nhất cho tương lai của nhà trường. Thực tiễn cho thấy có nhiều người ko nhất trí với sự thay đổi với nhiều lý do không giống nhau. Họ thường tìm các lý do khách quan và chủ quan để trì hoãn sự thay đổi. Vì vậy, cán bộ quản lý cần có giải pháp thuyết phục, động viên kịp thời, chứng minh cho sự cần thiết và tính thế tất phải thay đổi để mọi người nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của sự thay đổi, từ đó có giải pháp thay đổi thích hợp. Nghiên cứu sự thay đổi, công việc lãnh đạo và quản lý sự thay đổi ở các trường phổ thông hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nhằm tăng lên chất lượng giáo dục và huấn luyện là một việc làm quan trọng và cần thiết.

Xuất phát từ những lý do trên, em lựa chọn đề tài: “Quản lý sự thay đổi trong lãnh đạo đổi mới phương pháp dạy học ở trường………….” để nghiên cứu, ứng dụng trong quá trình được học bộ môn lãnh đạo và quản lý sự thay đổi vận dụng vào thực tiễn hoạt động và công việc tại trường. Đặc thù và trân trọng cảm ơn thầy.

Người viết

2. Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng số 2

Câu hỏi: Nội dung chủ yếu trong công việc tư vấn của lãnh đạo cấp phòng? Phân tích các yếu tố tác động tới hiệu quả công việc tư vấn trong lĩnh vực công việc đang đảm nhiệm? Những trắc trở trở ngại thường gặp phải lúc thực hiện tính năng tư vấn của lãnh đạo cấp phòng và đề xuất giải pháp khắc phục?

NỘI DUNG CHỦ YẾU TRONG CÔNG TÁC THAM MƯU CỦA LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG

Trong bộ máy quản lý nhà nước, phòng là một cấp. Tác dụng chung của cấp phòng là chuyển tải và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp trên trực tiếp và phản ánh những yêu cầu, ước vọng, đề xuất của công chức đơn vị với lãnh đạo cấp trên. Trong quan hệ với các chủ trương chính sách của Nhà nước, phòng là một cấp có tính năng tư vấn triển khai. Về vị trí, Phòng là tổ chức chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ của một cơ quan, đơn vị. Phòng được cơ cấu trong tổ chức cấp bộ, tổng cục, cục, sở, ngành cấp huyện và trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước ở Trung ương.

Nội dung công việc của phòng là các lĩnh vực có tính chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ. Do vị trí, cấp độ phòng không giống nhau nên nhiệm vụ cụ thể của phòng ở mỗi cấp không giống nhau. Nhiệm vụ, quyền hạn của lãnh đạo phòng chủ yếu tập trung vào hai mảng: (i) Chỉ huy thực hiện chủ trương, chính sách, quyết định quản lý của cấp trên; (ii) Tham vấn công việc cho lãnh đạo.

Phòng có tính năng tư vấn, giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ trên các lĩnh vực thích hợp với tính năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao.

Theo TS. Trần Đình Huỳnh: “Tham vấn là lúc một tổ chức hoặc một tư nhân tham gia (tham gia) vào việc đề xuất thiết kế một kế hoạch, một chương trình và tổ chức thực hiện (xây cất) các kế hoạch, chương trình của một chủ thể quyền lực lãnh đạo, quản lý nhất mực”. Tham vấn ko chỉ là tham gia, đề xuất chủ trương cho người lãnh đạo, quản lý cấp mình, nhưng mà còn là hướng dẫn và lãnh đạo thực hiện về lĩnh vực mình gánh vác cho cấp lãnh đạo và quản lý và cơ quan tư vấn cấp dưới. Trên cơ sở tính năng, nhiệm vụ, người lãnh đạo phòng cụ thể hóa nội dung cần tư vấn cho cấp trên gồm: (i) Tham vấn trong xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách và thứ tự quản lý; (ii) Tham vấn xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch công việc của phòng; (iii) Tham mưu mẹo hoạch và giải pháp rà soát, giám sát thực hiện để kịp thời điều chỉnh kế hoạch, hoạt động và nguồn lực; (iv) Tham vấn phối hợp trong triển khai thực hiện các đề án, kế hoạch chung.

Xét cả về tính năng tham gia lẫn tính năng hướng dẫn tổ chức thực hiện thì cơ quan và công chức tư vấn đều có tính chất lãnh đạo, quản lý và đồng thời phải cùng chịu trách nhiệm với người lãnh đạo, quản lý về lĩnh vực mình tư vấn. Ko nên hiểu thuần tuý tư vấn chỉ là giúp việc, là bảo sao làm vậy. Tham vấn có trách nhiệm thì đồng thời phải có quyền hạn.

Người lãnh đạo phòng làm công việc tư vấn cần có khả năng, hiểu biết và một hệ tiêu chuẩn cụ thể. Một số yêu cầu cụ thể đối với công việc tư vấn của lãnh đạo phòng bao gồm: (i)Tham vấn phải đảm bảo tính thích hợp pháp luật, phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức; (i)Trung thực và chuẩn xác với thái độ nghiêm túc trong công việc; (iii)Tham vấn phải kịp thời, có tính nguyên tẳc cao, nhưng xem xét khắc phục công việc cụ thể với thái độ khách quan, biện chứng; (iv)Tham vấn phải đầy đủ, toàn diện, song ko thành kiến, hẹp hòi, ko thủ cựu. Tham vấn phải góp phần tạo nên, củng cố và tăng trưởng văn hóa của tổ chức, hoàn thiện thứ tự công việc và phát huy tiềm năng của mọi thành viên, đóng góp vào thành công của phòng nói riêng và cơ quan nói chung; (v)Tham vấn đồng thời phải góp phần tăng lên hiệu quả phối hợp công việc giữa các phòng, các tư nhân trong tổ chức, đơn vị, cũng như tăng lên hiệu qưả phối hợp công việc giữa các đơn vị trong và ngoài ngành…

Do vậy, người lãnh đạo phòng làm công việc tư vấn phải có năng lực chuyên môn sâu, tinh thông về lĩnh vực mình gánh vác, với tính nhiều năm kinh nghiệm cao. Tài năng và trách nhiệm của tư vấn là khả năng chuyên sâu để đưa ra các phương án, kế hoạch, chương trình, các phương án và tính toán dự đoán có căn cứ về tính hiệu quả và hệ quả của từng chương trình, phương án. Ngoài ra, để thực hiện tốt công việc tư vấn, lãnh đạo phòng cần có các kỹ năng: (i)Kỹ năng phát hiện và lựa chọn vấn đề; (ii)Kỹ năng sẵn sàng thông tin, căn cứ, lỹ lẽ; (iii)Kỹ năng lựa chọn thời kì và vị trí; (iv)Kỹ năng lựa chọn phương pháp và dự kiến kết quả; (v)Kỹ năng trình diễn và thuyết phục.

Trong công việc tư vấn, lãnh đạo phòng cần tuân thủ các nguyên tắc sau: (i) Tham vấn phải căn cứ vào tính năng, nhiệm vụ, quyền hạn được cấp có thẩm quyền giao; (ii)Tham vấn phải nhằm thực hiện cho được các mục tiêu của đơn vị và của cấp phòng. Tuyệt đối ko để đầu óc vụ lợi, thiên vị, xen lẫn động cơ tư nhân; (iii)Tham vấn phải tuân thủ theo đúng pháp luật; (iv)Phải dựa trên cơ sở khoa học, khách quan; (v)Trung thành với lợi ích của nhân dân, của dân tộc, phấn đấu vì hôm nay và tương lai tốt đẹp của tổ quốc.

Tóm tại, tư vấn là một nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo phòng, công việc tư vấn là một nghề chuyên sâu, có tính nhiều năm kinh nghiệm cao. Lãnh đạo phòng phải có hiểu biết, kỹ năng, năng lực để thực hiện tốt nhiệm vụ tư vấn theo những yêu cầu và nguyên tắc nhất mực.

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI HIỆU QUẢ CÔNG TÁC THAM MƯU TRONG LĨNH VỰC CÔNG TÁC

Để thực hiện tốt công việc tư vấn, người lãnh đạo phòng cần phải tích lũy và xử lý thông tin chuẩn xác để nắm bắt rõ vấn đề cần tư vấn, có kỹ năng soạn thảo và quản lý văn bản khoa học và kỹ năng trình diễn, thuyết phục để có thể tham gia đề xuất chủ trương cho người lãnh đạo, quản lý cấp mình, đồng thời hướng dẫn và lãnh đạo thực hiện về lĩnh vực mình gánh vác cho cấp lãnh đạo và quản lý và cơ quan tư vấn cấp dưới. Ngoài các yếu tố chủ quan về phía người lãnh đạo, trong thực tiễn còn có các yếu tố tác động tới công việc tư vấn là thời kì xử lý công việc quá gấp hoặc có nhiều vấn đề đồng thời phải xử lý tác động tới hiệu quả công việc tư vấn.

1. Tích lũy và xử lý thông tin

a) Tích lũy thông tin

Lúc thực thi hoạt động công vụ, điều quan trọng là có được các thông tin và dữ liệu thích hợp, cần thiết phục vụ cho công việc của bản thân và của cơ quan, đơn vị, qua đó đóng góp cho việc hoàn thành mục tiêu chung. Tuy nhiên do các thông tin của sự vật, hiện tượng cần thống kê thường thay đổi theo thời khắc thống kê, để có thông tin chuẩn xác cần nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực địa, rà soát thực tiễn, phỏng vấn, dùng phiếu thăm dò… Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, do đó cần phối hợp các phương pháp một cách thích hợp để có được thông tin chuẩn xác, tin tưởng, nhanh chóng, tiết kiệm.

b) Xử lý thông tin

Thông tin sau lúc tích lũy dù đảm bảo tính chuẩn xác nhưng chưa thể tư vấn ngay được nhưng mà cần được tổng hợp, phân loại thông tin theo các lĩnh vực, theo mục tiêu quản lý để có được kết luận về thực trạng, tình hình vấn đề cần tư vấn. Lúc này thông tin đã trở thành dữ liệu, tức là từ những đơn vị nhỏ trở thành những đơn vị phân tích lớn hơn (ví dụ các thông tin từ các điểm trường, các trường trở thành thông tin các ngành học) cần được lưu trữ dưới dạng thích hợp để phân tích. Điều quan trọng là sắp xếp dữ liệu dưới dạng hệ thống và mang tính tổng quát. Để làm được điều này cần có những bảng biểu hoặc mẫu báo cáo được thiết kế thích hợp, bao quát được những thông tin có thể có để đảm bảo việc tổng hợp được nhanh chóng.

Trong tích lũy thông tin định lượng (số liệu) sẽ rất hữu ích lúc ứng dụng CNTT với các bảng biểu được thiết kế trên ứng dụng và các đơn vị cơ sở chỉ cần nhập thông tin theo biểu mẫu có sẵn. Đối với những thông tin ở dạng định tính, sau lúc được tích lũy qua các báo cáo, các phiếu khảo sát cần được tổng hợp và phân tích theo những phương pháp khoa học để tránh việc nhận định chủ quan. Việc tổng hợp thông tin cuối cùng được hệ thống trong một báo cáo tổng quan và lãnh đạo phòng phải kiểm soát được tính chuẩn xác, khoa học của thông tin ở báo cáo cuối cùng này trước lúc tư vấn.

2. Soạn thảo và quản lý văn bản

a) Soạn thảo văn bản

Kết quả của công việc tư vấn thường là một văn bản xây dựng, bổ sung, hoàn thiện, lãnh đạo, quản lý…các cơ chế chính sách, thứ tự quản lý hoặc văn bản kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, rà soát, giám sát…việc thực hiện các đề án, kế hoạch. Nếu kỹ năng soạn thảo văn bản ko tốt sẽ làm chậm trễ thời kì trong tư vấn, kéo dài thời kì trong các thủ tục hành chính; các văn bản ko đúng thể thức, nội dung khó hiểu còn làm tác động tới hiệu quả quản lý của cấp trên và tác động trực tiếp tới tính năng lãnh đạo, hướng dẫn trong tư vấn của lãnh đạo cấp phòng.

Do đó trong quá trình tư vấn lãnh đạo phòng cần phải làm chủ các kỹ năng soạn thảo, các quy định về trình diễn văn bản hành chính (theo Thông tư 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ, hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình diễn văn bản hành chính); quy định về trình diễn văn bản quy phi pháp luật (theo Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phi pháp luật năm 2015); về trình diễn các văn bản chuyên ngành trong lĩnh vực tài chính kế toán, lĩnh vực xây dựng theo các quy định của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng.

b) Quản lý văn bản

Trong công việc tư vấn cần căn cứ vào các văn bản quy định, các văn bản lãnh đạo quản lý của cấp trên, văn bản phân phối thông tin số liệu của cấp dưới, trong các văn bản được lưu giữ…; trong mỗi công việc cụ thể có rất nhiều văn bản liên quan và theo thời kì những văn bản cần lưu giữ càng phức tạp cả về số lượng lẫn chủng loại. Do đó để có căn cứ thực hiện công việc tư vấn cần phải quản lý tốt văn bản đi, văn bản tới và xây dựng hồ sơ văn bản một cách khoa học, hợp lý.

3. Trình diễn và thuyết phục

Đê thực hiện công việc tư vấn, lãnh đạo phòng thường xuyên phải báo cáo, trình diễn, đề xuất và kiến nghị với cấp trên trực tiếp, hoặc công chức quản lý của các cơ quan, đơn vị liên quan. Do vậy, lúc trình diễn bằng lời nói đôi lúc có một số khó khăn nhỏ lúc lãnh đạo ko có nhiều thời kì để nghe trình diễn hoặc áp đặt ý kiến của lãnh đạo. Ngoài ra, trong lúc trao đổi công việc với cấp dưới, nếu trình diễn rõ ràng và thuyết phục sẽ tăng được hiệu quả trong công việc quản lý. Tuy nhiên đây ko phải là vấn đề then chốt, yêu cầu người viên chức cần trau dồi hơn nữa về kỹ năng thuyết phục và trình diễn nội dung tư vấn.

Trong trình diễn cần xem xét yếu tố cấp bậc, chức vụ của nhân vật lắng tai. Lúc trình diễn với cấp trên, nên làm rõ các điểm, ý chính, trao đổi chuẩn xác và chú ý lắng tai/ghi chép những nhận xét, ý kiến của cấp trên. Lúc nói chuyện với cấp dưới, xoành xoạch giảng giải cụ thể các vấn đề và lấy ý kiến viên chức cấp dưới xem họ suy nghĩ và phản hồi thế nào về vấn đề đó.

4. Có nhiều vấn đề cùng một lúc cần phải xử lý

Trong quá trình tư vấn có nhiều công việc trong kế hoạch tới hạn phải tư vấn và nhiều công việc đột xuất xảy ra phải khắc phục, tương tự sẽ tác động tới hiệu quả, chất lượng, tiến độ của quá trình tư vấn.

5. Thời kì khắc phục công việc

Thỉnh thoảng các nội dung yêu cầu tư vấn có thời hạn xử lý ngắn điều đó sẽ tác động tới chất lượng của văn bản tư vấn. Thời kì dành cho việc tích lũy, cập nhật thông tin ít dẫn tới số liệu, dẫn chứng chưa đủ sức thuyết phục.

III. NHỮNG KHÓ KHĂN TRỞ NGẠI THƯỜNG GẶP KHI THỰC HIỆN CHỨC NĂNG THAM MƯU CỦA LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

1. Khó khăn trở ngại trong thực hiện tính năng tư vấn

Có nhiều khó khăn trở ngại từ nhiều phái lúc thực hiện tính năng tư vấn của lãnh đạo cấp phòng tuy nhiên có một số khó khăn cản trở chính sau:

a) Nguyên nhân chủ quan

Người lãnh đạo cấp phòng làm công việc tư vấn ko có đủ trình độ tri thức chuyên môn (yếu chuyên môn) vì vậy người lãnh đạo, quản lý cấp phòng ko có trình độ chuyên môn tốt sẽ ko có khả năng phối hợp chuyên môn với các thành viên trong phòng. Hay nói cách khác, người lãnh đạo ko có chuyên môn sẽ ko có yếu tố để tác động tới người khác, ko thuyết phục được người khác, ko thu hút người khác.

Người lãnh đạo cấp phòng ko đủ phẩm chất chính trị, lập trường tư tưởng ko vững vàng, tư vấn trái chủ trương, đường lối của Đảng, ko đúng quy định của pháp luật vì vậy tư vấn ko chuẩn.

Người lãnh đạo cấp phòng ko đủ về kỹ năng kinh nghiệm. Năng lực lãnh đạo của nhà lãnh đạo, quản lý cấp phòng được tăng trưởng qua kinh nghiệm thực tiễn, qua những cọ xát, thử thách với công việc hàng ngày. Từ những nền tảng lý thuyết liên kết với thực tiễn của chính bản thân, người lãnh đạo có những quyết định đúng mực xử lý các tình huống xảy ra trong hoạt động của phòng. Nếu thiếu kinh nghiệm này thì người lãnh đạo cấp phòng sẽ gặp những trắc trở như ko biết diễn tả bằng văn bản, thuyết phục ko được hoặc thuyết phục ko đúng lúc, đúng chỗ.

Nếu người lãnh đạo cấp phòng là người hẹp hòi, ích kỷ chỉ đặt lợi ích tư nhân lên trên hết nhưng mà ko nghĩ tới lợi ích chung thì việc tư vấn sẽ ko đạt được hiệu quả.

b) Nguyên nhân khách quan

Từ phía người được tư vấn: Quản lý cấp trên được tư vấn nếu là người độc đoán, cố chấp, thủ cựu, quan liêu… sẽ ko chịu nghe ý kiến tư vấn từ cấp dưới chính vì vậy sẽ ko phát huy được tính thông minh và kinh nghiệm của cấp dưới. Không những thế, năng lực của viên chức trong phòng hoặc cấp cơ sở hạn chế cũng tác động tới công việc tư vấn, dẫn tới quá trình tư vấn chậm trễ, thiếu chuẩn xác hoặc thực hiện ko đạt yêu cầu.

Về cơ chế quản lý, lãnh đạo cấp phòng ko có quyền hạn trực tiếp trong việc tuyển dụng, huấn luyện, khen thưởng, điều chuyển, sa thải… viên chức thuộc lĩnh vực quản lý của mình dẫn tới những bất cập trong hàng ngũ ko được khắc phục triệt để.

Ngoài ra còn có cản trở từ các yếu tố khác như: bối cảnh kinh tế, chính trị chi phối, sự bất cập trong các văn bản lãnh đạo quản lý, sự chậm trễ trong các thủ tục hành chính… khiến nội dung tư vấn ko thể thực hiện được.

2. Giải pháp khắc phục

a) Về phía người tư vấn

Luôn vững ý thức và ý kiến lúc tư vấn phải nghĩ tới lợi ích chung. Tăng cường hiểu biết sâu về chuyên môn, nghiệp vụ để tư vấn có hiệu quả. Người lãnh đạo có trình độ chuyên môn tốt sẽ là tấm gương cho các thành viên khác noi theo, có khả năng phối hợp chuyên môn với các thành viên khác, sử dụng chuyên môn như một yếu tố tác động tới người khác, thu hút người khác theo mình, là người cầm cân nảy mực.

Nắm vững chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng, các quyết định của Nhà nước để tư vấn cho đúng.

Tăng cường các kỹ năng để phục vụ cho công việc tư vấn như: soạn thảo văn bản, kỹ năng thuyết trình, thuyết phục…

b) Về phía người được tư vấn:

Cần có cái nhìn biện chứng, tránh thành kiến vì điều này tạo nên những hậu quả ko tốt, một mặt nó làm cho người dưới quyền chống lại sức lãnh đạo ở mức độ trực tiếp hoặc gián tiếp. Mặt khác nó làm cắt bớt sự tham gia của các thành viên lúc khắc phục các công việc của đơn vị.

Người được tư vấn cần có kỹ năng nghe thật tốt, phải biết lắng tai, biết chọn lựa các ý kiến được tư vấn để đưa ra những quyết định hiệu quả nhất.

Viên chức của phòng phải tăng lên ý thức chủ động trong công việc, tự học tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ phục vụ yêu cầu vị trí việc làm.

Hoàn thiện đồng bộ cơ chế tổ chức, tuyển dụng, sắp xếp sử dụng cán bộ, xây dựng cơ chế đặc thù riêng cho cán bộ, chuyên viên có năng lực trong bộ máy tư vấn theo hướng khuyến khích nhân sự chất lượng cao, linh hoạt trong bổ nhiệm, tuyển dụng./.

Mời các bạn tải file về để xem cụ thể bài thu hoạch lãnh đạo cấp phòng.

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục Bài thu hoạch trong mục tài liệu nhé.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục

[rule_{ruleNumber}]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #kỹ #năng #lãnh #đạo #quản #lý #cấp #phòng

[rule_3_plain]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #kỹ #năng #lãnh #đạo #quản #lý #cấp #phòng

[rule_1_plain]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #kỹ #năng #lãnh #đạo #quản #lý #cấp #phòng

[rule_2_plain]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #kỹ #năng #lãnh #đạo #quản #lý #cấp #phòng

[rule_2_plain]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #kỹ #năng #lãnh #đạo #quản #lý #cấp #phòng

[rule_3_plain]

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #kỹ #năng #lãnh #đạo #quản #lý #cấp #phòng

[rule_1_plain]

Nguồn:chinphu.vn
Phân mục: Tin tức

#Bài #thu #hoạch #lớp #bồi #dưỡng #kỹ #năng #lãnh #đạo #quản #lý #cấp #phòng

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button