Tin Tức

Cách xác định tỷ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)? phải ko?Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài viết hay khác tại đây => Tin tức

Cách tính tỉ lệ thương tật? Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm? Cách xác định tỉ lệ thương tật của từng bộ phận, từng trường hợp là bao nhiêu % theo quy định mới nhất.

Hiện nay có rất nhiều câu hỏi thắc mắc về vấn đề tỉ lệ thương tích lúc sức khỏe bị xâm phạm chúng tôi thu được hàng ngày như: Tôi bị đánh gãy sống mũi, gãy tay thì tỉ lệ thương tích bao nhiêu? Vấn đề hỏi này nhằm xác định tội danh cho người gây thương tích. Hiểu được những vấn đề thắc mắc trên chúng tôi phân tích tóm gọn trong bài viết dưới đây:

Thương tật là những dị tật đã được cơ quan có thẩm quyền xác định sau lúc vết thương đã được khắc phục điều trị. Tránh việc nhầm lẫn giữa thương tật và thương tích lúc thương tích là tình trạng vết thương trên thân thể do bị tổn thương vì tai nạn, bom đạn hay do các hành vi phạm tội gây nên.

Bạn đang xem: Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Cach-tinh-ty-le-thuong-tat

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 

Thông tư 22/2019/TT-BYT quy định tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y thần kinh (có hiệu lực từ ngày 01/11/2019). Cụ thể các tổn thương bao gồm:

+ Tổn thương thân thể do tổn thương xương sọ và hệ thần kinh

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ tim mạch

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ hô hấp

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ tiêu hóa

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ tiết niệu – sinh dục – sản khoa

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ nội tiết

+ Tổn thương thân thể do tổn thương cơ – xương khớp

+ Tổn thương thân thể do tổn thương ứng dụng

+ Tổn thương thân thể do tổn thương bỏng

+ Tổn thương thân thể do tổn thương cơ quan thị giác

+ Tổn thương thân thể do tổn thương răng – hàm – mặt

+ Tổn thương thân thể do tổn thương tai – mũi – họng

1. Nguyên tắc giám định tỉ lệ tổn thương thân thể (TTCT):

– Thực hiện việc giám định thương tích thương tật để xác định được mức % phải thực hiện trên người cần giám định.

– Thực hiện việc giám định được thực hiện trên hồ sơ trong trường hợp người cần giám định đã bị chết hoặc bị mất tích hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Lúc giám định trên hồ sơ, tỉ lệ % tổn thương thân thể được xác định ở mức thấp nhất của khung tỉ lệ tương ứng với các tỉ lệ % tổn thương thân thể.

– Mức độ % tổn thương thân thể được xác định tại thời khắc giám định.

2. Nguyên tắc xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể:

Tổng tỉ lệ % tổn thương thân thể của người bị tổn thương thân thể phải nhỏ hơn 100%

– Mỗi bộ phận thân thể bị tổn thương chỉ được tính tỉ lệ % tổn thương thân thể một lần. Trường hợp bộ phận này bị tổn thương nhưng gây biến chứng, di chứng sang bộ phận thứ hai đã được xác định thì tính thêm tỉ lệ % toornt hương thân thể do biến chứng, di chứng tổn thương ở bộ phận thứ hai.

– Nếu nhiều TTCT là triệu chứng thuộc một hội chứng hoặc thuộc một bệnh đã được ghi trong các Bảng tỉ lệ % TTCT thì tỉ lệ % TTCT được xác định theo hội chứng hoặc theo bệnh đó.

– Lúc tính tỉ lệ % TTCT chỉ lấy tới hai chữ số hàng thập phân, ở kết quả cuối cùng thì làm tròn để có tổng tỉ lệ % TTCT là số nguyên (nếu số hàng thập phân bằng hoặc lớn hơn 0,5 thì làm tròn số thành 01 đơn vị).

– Lúc tính tỉ lệ % TTCT của một bộ phận thân thể có tính chất đối xứng, hiệp đồng công dụng nhưng mà một bị đơn tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đã được xác định, thì tính cả tỉ lệ % TTCT đối với bộ phận bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đó.

– Lúc giám định, căn cứ tổn thương thực tiễn và mức độ tác động của tổn thương tới cuộc sống, nghề nghiệp của người cần giám định, giám định viên giám định, xác định tỉ lệ % TTCT trong khung tỉ lệ tương ứng với Bảng tỉ lệ % TTCT.

– Đối với các bộ phận thân thể đã bị mất công dụng, nay bị tổn thương thì tỉ lệ % TTCT được tính bằng 30% tỉ lệ % TTCT của bộ phận đó.

– Trường hợp trên cùng một người cần giám định nhưng mà vừa phải giám định pháp y lại vừa phải giám định pháp y thần kinh (theo quyết định trưng cầu/yêu cầu), thì tổ chức giám định thực hiện giám định sau tổng hợp (cộng) tỉ lệ % TTCT của người cần giám định theo phương pháp xác định tỉ lệ % TTCT quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT.

3. Phương pháp xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể:

Tỉ lệ thương tật xác định theo % được quy định cụ thể và cụ thể tại Phụ lục số 01 Thông tư 22/2019/TT-BYT quy định về tỉ lệ tổn thương thân thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y thần kinh, cụ thể như một số tổn thương:

Liệt: Liệt tứ chi mức độ nhẹ (61-63%); Liệt hoàn toàn nửa người (85%); Liệt hoàn toàn một tay hoặc một chân (61%)

Tổn thương ruột non: Tổn thương gây thủng (Thủng một hoặc hai lỗ đã xử trí 26-30%; Thủng từ ba lỗ trở lên đã xử trí 31-35%); Tổn thương phải cắt đoạn ruột non dưới một mét (Cắt đoạn thuộc hỗng tràng 36-40%; Cắt đoạn buộc hồi tràng 46-51%); Tổn thương phải cắt bỏ ruột non dài trên một mét, có rối loạn tiêu hóa (Cắt đoạn thuộc hỗng tràng 46-51%; Cắt đoạn thuộc hồi tràng 55-60%; Tổn thương phải cắt bỏ gần hết ruột non có rối loạn tiêu hóa trầm trọng, tác động nặng nề tới dinh dưỡng 81-85%

Thận: Cắt bỏ một thận, thận còn lại phổ biến 41-45%; Cắt bỏ một phần thận, thận còn lại phổ biến thường 21-25%.

Các tổn thương khác của hệ tiêu hóa: Phẫu thuật xử trí tổn thương ở mạc nối, mạc treo (Thủng mạc treo, mạc nối nhưng ko tổn thương mạch 3 – 5%; Khâu cầm máu thuần tuý 21-25%; Khâu cầm máu và cắt một phần mạc nối 31%)

Việc xác định tỉ lệ % tổn thương thân thể (TTCT) căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT được tính theo phương pháp cộng dưới đây:

Tổng tỉ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 +…+ Tn

Trong đó:

T1: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ nhất: T1 được xác định là tỉ lệ % tổn thương nằm trong khung tỉ lệ các TTCT;

T2: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ hai: T2 = (100 – T1) x tỉ lệ % TTCT thứ 2/100;

T3: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ ba: T3 = (100-T1-T2) x tỉ lệ % TTCT thứ 3/100;

Tn: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ n: Tn= {100-T1-T2-T3-…-T(n-1)} x tỉ lệ % TTCT thứ n/100.

Việc xác định tỉ lệ thương tật được thực hiện theo các quy định của Luật giám định tư pháp 2012. Trong rất nhiều trường hợp, đây là yếu tố quan trọng xác định một người phạm tội hay ko phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự.

TƯ VẤN MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ:

Tóm tắt câu hỏi:

Xin Luật sư có thể tư vấn giúp tôi vấn đề này được ko ạ? Tôi bị 1 tên đâm vào bụng – trong giấy y chứng ghi: vết thương thấu bụng dưới rốn (=3cm) có lòi ruột non (thủng 2 lỗ ruột non + 3 lổ mạc treo + vết thương dài 4cm dưới cằm. Căn cứ vào cách tính cơ bản của thông tin qui định tỉ lệ tổn thương thân thể theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT và bảng tính tỉ lệ TT đính kèm (Chương 4: Tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể do tổn thương hệ tiêu hóa – phần III: Tổn thương ruột non: Thủng 1 hoặc 2 lổ đã xử trí: 26-30% và phần X: Các tổn thương khác của hệ tiêu hóa: Phẫu thuật xử trí tổn thương ở mạc nối, mạc treo: Khâu cầm máu thuần tuý 21 – 25%. Vậy nên có thể tính: T1 = 30%, T2= (100 – 30) x 25% = 17.5%. Tổng tỉ lệ thương tật T = T1 + T2 = 47,5% Vậy xin tư vấn cho tôi cách tính tổng này có đúng hay ko? Xin thật tâm cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Tỉ lệ thương tật là một trong những yếu tố quan trọng để xác định mức độ nguy hiểm của tội phạm, theo đó có thể bị truy tố theo Điều 134, 135, 136, 137, 138, 139 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội cố ý, vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT Quy  định về phương pháp xác định tỉ lệ tổn thương thân thể như sau:

Cach-tinh-ty-le-thuong-tat

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT công thức tính tổng tỉ lệ tổn thương thân thể của bạn lúc sức khỏe bị xâm phạm như sau:

Tổng tỉ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 +…+ Tn

Theo thông tin bạn bị đâm vào bụng, trong giấy y chứng ghi: vết thương thấu bụng dưới rốn (=3cm) có lòi ruột non (thủng 2 lỗ ruột non) + 3 lỗ mạc treo + vết thương dài 4cm dưới cằm

Thứ nhất là tổn thương ruột non (thủng một hoặc hai lỗ đã xử trí), mức phần trăm tổn thương từ 26 – 30% theo Thông tư 22/2019/TT-BYT . Tương tự T1 có thể là 26%, 27%, 28%, 29% hoặc 30% tùy theo giám định viên giám định. Giả sử ở đây T1 = 30%

Thứ hai là tổn thương 3 lỗ mạc treo và vết thương dài 4cm dưới cằm căn cứ theo Thông tư 22/2019/TT-BYT tổn thương này đưa vào phần các tổn thương khác của hệ tiêu hóa: Phẫu thuật xử trí tổn thương ở mạc nối, mạc treo: khâu cầm máu thuần tuý mức phần trăm tổn thương từ 21 – 25%. Tương tự % tổn thương thân thể thứ 2 ở đây có thể là 21%, 22%, 23%, 24%, 25% tùy theo giám định viên giám định. Giả sử ở đây là 25%

=> T2 = (100 – T1) x tỉ lệ % TTCT thứ 2/100 = (100 – 30) x 25% = 17,5%

=> Tổng tỉ lệ thương tật của bạn là TTCT = 30% + 17,5% = 47,5%

Tương tự cách tính và căn cứ của bạn như trên là đúng, nhưng cần phải căn cứ theo những quy định pháp luật mới, ngoài ra còn phụ thuộc vào bên giám định y khoa họ rà soát phần thương tích và đưa ra từng mức tổn thương cụ thể dựa trên Luật giám định tư pháp 2012 và Thông tư 22/2019/TT-BYT. Lúc có được tổng mức tỉ lệ tổn thương thân thể, bạn có thể căn cứ theo những quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như tại Điều 134 như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 11% tới 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo ko giam giữ tới 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng tới 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ nhưng mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác ko có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời kì đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành quyết phạt tù hoặc đang bị vận dụng giải pháp đưa vào cơ sở giáo dục buộc phải, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện buộc phải;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 11% tới 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm tới 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 31% tới 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm tới 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 31% tới 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm tới 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể 61% trở lên, nếu ko thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn tới chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm tới 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm tới 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể 61% trở lên.

7. Người sẵn sàng phạm tội này, thì bị phạt cải tạo ko giam giữ tới 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng tới 02 năm.

Từ những thông tin trên bạn có thể xác định được mức phạt trong bộ luật hình sự lúc người ta cố ý gây thương tích cho bạn tương tự sẽ bị phạt bao nhiêu năm tù hoặc bị vận dụng khoản phạt bao nhiêu.

3. Giám định tỉ lệ thương tật bao nhiêu % lúc đánh nhau:

Tóm tắt câu hỏi:

Em trai tôi bị một thanh niên trong xóm đánh và phải nhập viện. Tôi muốn hỏi giờ tôi phải làm thế nào để giám định tỉ lệ thương tật của em trai tôi để có thể yêu cầu khởi tố cậu thanh niên kia về tội cố ý gây thương tích. Mong Luật sư tư vấn giúp tôi.

Luật sư tư vấn:

Trước hết, theo Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

“Bắt buộc phải trưng cầu giám định lúc cần xác định:

1. Tình trạng thần kinh của người bị cáo buộc lúc có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng thần kinh của người làm chứng hoặc bị hại lúc có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng mực về những tình tiết của vụ án;

2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc khắc phục vụ án và ko có tài liệu để xác định xác thực tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

3. Nguyên nhân chết người;

4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim loại quý, ruby, đồ cổ;

6. Mức độ ô nhiễm môi trường.”

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012 quy định:

“Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng”

Tương tự, đối với trường hợp của em trai bạn, Thủ trưởng cơ quan dò hỏi, Viện trưởng Viện kiểm sát,… sẽ có quyền ra quyết định trưng cầu giám định về tỉ lệ thương tật chứ em trai bạn ko thể tự đi giám định thương tật được. Theo đó, em trai bạn cần làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích đối với hành vi của người thanh niên trong xóm kia rồi trình lên cơ quan công an cấp huyện. Sau đó, cơ quan công an sẽ thực hiện các bước tố tụng và trưng cầu giám định tỉ lệ thương tật của em trai bạn.

Xem thêm bài viết hay:   Dàn ý kể lại câu chuyện để giải thích vì sao người Việt Nam tự xưng là Con Rồng, cháu Tiên

Nếu tỉ lệ thương tật của em trai bạn từ “11% trở lên, hoặc có thể dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại các điểm từ a tới k của Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015…” thì có đủ căn cứ để cơ quan dò hỏi ra quyết định khởi tố vụ án đối với tội cố ý gây thương tích.

Ngoài ra, nếu ko đủ căn cứ khởi tố hình sự, em trai bạn có quyền khởi kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm về sức khỏe, tính mệnh. Các khoản được bồi thường được quy định tại Điều 590, Điều 591 Bộ luật dân sự 2015.

4. Thời hạn yêu cầu giám định thương tật trong tố tụng hình sự:

Tóm tắt câu hỏi:

Có quy định nào của pháp luật quy định cụ thể về thời hạn, hiệu lực trong trưng cầu giám định thương tật do bị đánh ko thưa Luật sư?

Luật sư tư vấn:

Hiện nay, liên quan tới các quy định về trưng cầu giám định thương tật bạn cần xem xét các văn bản pháp lý như sau:

+ Luật giám định tư pháp 2012

+ Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/07/2013 của Chính phủ

Nếu như quy định cụ thể về thời hạn và hiệu lực trong trưng cầu giám định thương tật do bị đánh thì bạn xem xét các quy định trong Luật giám định tư pháp 2012 như sau:

“Điều 21. Quyền, nghĩa vụ của người trưng cầu giám định tư pháp

1. Người trưng cầu giám định có quyền:

a) Trưng cầu tư nhân, tổ chức quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này thực hiện giám định;

b) Yêu cầu tư nhân, tổ chức quy định tại điểm a khoản 1 Điều này trả kết luận giám định đúng nội dung và thời hạn đã yêu cầu;

c) Yêu cầu tư nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giảng giải kết luận giám định.

2. Người trưng cầu giám định có nghĩa vụ:

a) Lựa chọn tổ chức hoặc tư nhân thực hiện giám định thích hợp với tính chất, yêu cầu của vụ việc cần giám định;

b) Ra quyết định trưng cầu giám định bằng văn bản;

c) Cung ứng thông tin, tài liệu có liên quan tới nhân vật giám định theo yêu cầu của tư nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp;

d) Tạm ứng chi phí giám định tư pháp lúc trưng cầu giám định; trả tiền kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho tư nhân, tổ chức thực hiện giám định lúc nhận kết luận giám định;

đ) Đảm bảo an toàn cho người giám định tư pháp trong quá trình thực hiện giám định hoặc lúc tham gia tố tụng với tư cách là người giám định tư pháp.

Điều 22. Quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giám định tư pháp

1. Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng trưng cầu giám định. Trường hợp cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng ko chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày thu được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.

2. Người yêu cầu giám định có quyền:

a) Yêu cầu tư nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trả kết luận giám định đúng thời hạn đã thỏa thuận và theo nội dung đã yêu cầu;

b) Yêu cầu tư nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giảng giải kết luận giám định;

c) Yêu cầu Toà án triệu tập người giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giảng giải, trình diễn về kết luận giám định;

d) Yêu cầu cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng trưng cầu giám định lại; yêu cầu giám định bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Người yêu cầu giám định tư pháp có nghĩa vụ:

a) Cung ứng thông tin, tài liệu có liên quan tới nhân vật giám định theo yêu cầu của người giám định tư pháp và chịu trách nhiệm về tính xác thực của thông tin, tài liệu do mình cung ứng;

b) Nộp tạm ứng chi phí giám định tư pháp lúc yêu cầu giám định; trả tiền kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho tư nhân, tổ chức thực hiện giám định lúc nhận kết luận giám định.

4. Người yêu cầu giám định chỉ được thực hiện quyền tự yêu cầu giám định trước lúc Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.”

=> Thời hạn và thời hiệu sẽ phụ thuộc vào yêu cầu của người có yêu cầu giám định.

5. Xác định thương tật đối với tội cố ý gây thương tích:

Tóm tắt câu hỏi:

Em có 2 người bạn, bị 1 người làm cùng công trường xây dựng đánh & họ đã phản kháng. Bị đơn bạn em đánh đã ra sức an trình báo và vào bệnh viện làm giấy chứng thực thương tích: rách 3cm ở vành tai, gãy cung sau 3 xương sườn, rạn xương gò má nhưng ko ghi tỉ lệ thương tật là bao nhiêu %. Sau lúc người này ra viện thì 2 bên đã thực hiện hoà giải tại công trường & bồi thường tiền. Giờ bị đơn đánh có làm đơn bãi nại ra sức an thì phía công an yêu cầu phải có giấy chứng thực thương tích. Em muốn hỏi là với tình trạng thương tật tương tự, bị đơn đánh bãi nại thì bạn em có bị khởi kiện theo luật hình sự ko ạ? Em xin thật tâm cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung ứng thì bạn của bạn có hành vi gây thương thích cho người khác. Căn cứ Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì nếu người nào cố ý gây thương tích cho người khác với tủ lệ tổn thương thân thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các điểm a tới k khoản 1 Điều 134 thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội cố ý gây thương tích.

Vì bạn của bạn chưa giám định tỉ lệ thương tật nên chưa có căn cứ để xem xét bạn của bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay ko.

Căn cứ Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại:

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự lúc có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thần kinh hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan dò hỏi, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì ko có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Bị đơn hại đã làm đơn bãi nại cho bạn của bạn, tuy nhiên ko phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là ko bị xử lý hình sự. Căn cứ quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ ko xử lý đối với 11 tội danh trong đó có quy định: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1, Điều 134  Bộ luật Hình sự 2015).

Tương tự phải xác định được tỉ lệ tổn thương thân thể của người bị đánh thì mới biết bạn của bạn phạm tội theo khoản mấy của Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 để công an có cơ sở khắc phục. Theo đó:

– Nếu sau lúc giám định tỉ lệ tổn thương thân thể nhưng mà bạn của bạn bị khởi tố vụ án hình sự về tội theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, bên phía người bị hại có làm đơn đơn bãi, thì cơ quan dò hỏi sẽ đình chỉ vụ án và bạn của bạn ko bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa

– Nếu sau lúc giám định tỉ lệ tổn thương thân thể nhưng mà bạn bị khởi tố vụ án hình sự về tội theo khoản 2, 3, 4, 5 hoặc 6 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, thì cho dù có đơn bãi nại của người bị hại bạn của bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng việc người bị hại làm đơn bãi nại có thể là căn cứ để Tòa án giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bạn của bạn.

6. Giám định tỉ lệ thương tật lúc bị người khác chém đứt gân tay:

Tóm tắt câu hỏi:

Xin hỏi Luật sư: Bị chém đứt gân tay đi viện nối lại thì giám định thương tật được tính bao nhiêu %. Cơ quan nào đủ điều kiện giám định? Người bị chém cầm dao xông vào nhà chém người, bị bắt dao chém lại đứt gân tay, gia đình đã khắc phục hậu quả là đưa đi viện trả tiền viện phí, người bị chém ko kiện tụng gì và có đơn hòa giải. Đây là 2 anh em con chú con bác xin hỏi Luật sư có bị truy tố ko? 

Luật sư tư vấn:

Bạn nêu người bị hại bị chém đứt gân tay đi viện nối lại. Trong trường hợp này chúng tôi ko thể đưa ra được con số xác thực về tỉ lệ thương tật của người bị chém. Tuy nhiên, gia đình bạn có thể tham khảo các quy định dưới đây:

Theo khoản 2, khoản 3, Điều 2, Luật giám định tư pháp 2012 thì người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng. Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau lúc đã đề xuất cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng trưng cầu giám định nhưng mà ko được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan tới việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Không những thế theo Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về trưng cầu giám định như sau:

Bắt buộc phải trưng cầu giám định lúc cần xác định:

1. Tình trạng thần kinh của người bị cáo buộc lúc có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng thần kinh của người làm chứng hoặc bị hại lúc có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng mực về những tình tiết của vụ án;

2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc khắc phục vụ án và ko có tài liệu để xác định xác thực tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

3. Nguyên nhân chết người;

4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim loại quý, ruby, đồ cổ;

6. Mức độ ô nhiễm môi trường.

Tương tự, căn cứ theo quy định trên, người bị chém có quyền yêu cầu cơ quan dò hỏi thực hiện trưng cầu giám định thương tích do bị chém để xác định được tỉ lệ thương tật. Nếu như thấy việc giám định là cần thiết thì có quan dò hỏi sẽ thực hiện thủ tục trưng cầu giám định. 

giam-dinh-ty-le-thuong-tat-khi-bi-chem-dut-gan-tay

Luật sư tư vấn về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác :

Căn cứ theo Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự lúc có yêu cầu của bị hại về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 Bộ luật hình sự 2015.

Và khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 11% tới 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo ko giam giữ tới 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng tới 03 năm:

– Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

– Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

– Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ nhưng mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác ko có khả năng tự vệ;

– Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

– Có tổ chức;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

– Trong thời kì đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành giải pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành giải pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục buộc phải, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện buộc phải;

– Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

– Có tính chất côn đồ;

– Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Tương tự, để xem xét về vấn đề người chém có bị khởi tố hay ko thì phải phụ thuộc vào tỉ lệ thương tật của người bị chém cũng như là hành vi của người chém lúc thực hiện tội phạm như thế nào? Vì bạn cung ứng thông tin chưa đầy đủ, nên chúng tôi sẽ khắc phục vấn đề của bạn theo các trường hợp như sau:

– Do hành vi của người của người chém là dùng dao – hung khí nguy hiểm gây ra thương tích cho người khác và nếu tỉ lệ thương tật dưới 11% thì hành vi của người thân của bạn sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015. Vì vậy, lúc người yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ theo quy định của Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. 

– Nếu người chém gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ thương tật từ 11% trở lên và kèm theo hành vi dùng hung khí nguy hiểm thì trong trường hợp này người chém có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015. Và việc khởi tố vụ án hình sự sẽ ko phụ thuộc vào yêu cầu khởi tố của người bị hại nhưng mà bất kỳ lúc nào cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện được tín hiệu của tội phạm thì người thân của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi của mình gây ra. Do đó, nếu việc người bị hại hay gia đình người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố ở đây thì người có hành vi vi phạm vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc rút đơn của người bị hại chỉ được Tòa án là các tình tiết giảm nhẹ tội cho người chém để xem xét mức hình phạt.


Xem thêm chi tiết: Cách xác định tỷ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Xem thêm bài viết hay:   Phân tích tâm trạng Nguyễn Khuyến qua Thu điếu

Hình Ảnh về: Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Video về: Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Wiki về Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)? -

Cách tính tỉ lệ thương tật? Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm? Cách xác định tỉ lệ thương tật của từng bộ phận, từng trường hợp là bao nhiêu % theo quy định mới nhất.

Hiện nay có rất nhiều câu hỏi thắc mắc về vấn đề tỉ lệ thương tích lúc sức khỏe bị xâm phạm chúng tôi thu được hàng ngày như: Tôi bị đánh gãy sống mũi, gãy tay thì tỉ lệ thương tích bao nhiêu? Vấn đề hỏi này nhằm xác định tội danh cho người gây thương tích. Hiểu được những vấn đề thắc mắc trên chúng tôi phân tích tóm gọn trong bài viết dưới đây:

Thương tật là những dị tật đã được cơ quan có thẩm quyền xác định sau lúc vết thương đã được khắc phục điều trị. Tránh việc nhầm lẫn giữa thương tật và thương tích lúc thương tích là tình trạng vết thương trên thân thể do bị tổn thương vì tai nạn, bom đạn hay do các hành vi phạm tội gây nên.

Bạn đang xem: Cách xác định tỉ lệ thương tật là bao nhiêu phần trăm (%)?

Cach-tinh-ty-le-thuong-tat

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 

Thông tư 22/2019/TT-BYT quy định tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y thần kinh (có hiệu lực từ ngày 01/11/2019). Cụ thể các tổn thương bao gồm:

+ Tổn thương thân thể do tổn thương xương sọ và hệ thần kinh

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ tim mạch

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ hô hấp

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ tiêu hóa

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ tiết niệu – sinh dục – sản khoa

+ Tổn thương thân thể do tổn thương hệ nội tiết

+ Tổn thương thân thể do tổn thương cơ – xương khớp

+ Tổn thương thân thể do tổn thương ứng dụng

+ Tổn thương thân thể do tổn thương bỏng

+ Tổn thương thân thể do tổn thương cơ quan thị giác

+ Tổn thương thân thể do tổn thương răng – hàm – mặt

+ Tổn thương thân thể do tổn thương tai – mũi – họng

1. Nguyên tắc giám định tỉ lệ tổn thương thân thể (TTCT):

– Thực hiện việc giám định thương tích thương tật để xác định được mức % phải thực hiện trên người cần giám định.

– Thực hiện việc giám định được thực hiện trên hồ sơ trong trường hợp người cần giám định đã bị chết hoặc bị mất tích hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Lúc giám định trên hồ sơ, tỉ lệ % tổn thương thân thể được xác định ở mức thấp nhất của khung tỉ lệ tương ứng với các tỉ lệ % tổn thương thân thể.

– Mức độ % tổn thương thân thể được xác định tại thời khắc giám định.

2. Nguyên tắc xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể:

Tổng tỉ lệ % tổn thương thân thể của người bị tổn thương thân thể phải nhỏ hơn 100%

– Mỗi bộ phận thân thể bị tổn thương chỉ được tính tỉ lệ % tổn thương thân thể một lần. Trường hợp bộ phận này bị tổn thương nhưng gây biến chứng, di chứng sang bộ phận thứ hai đã được xác định thì tính thêm tỉ lệ % toornt hương thân thể do biến chứng, di chứng tổn thương ở bộ phận thứ hai.

– Nếu nhiều TTCT là triệu chứng thuộc một hội chứng hoặc thuộc một bệnh đã được ghi trong các Bảng tỉ lệ % TTCT thì tỉ lệ % TTCT được xác định theo hội chứng hoặc theo bệnh đó.

– Lúc tính tỉ lệ % TTCT chỉ lấy tới hai chữ số hàng thập phân, ở kết quả cuối cùng thì làm tròn để có tổng tỉ lệ % TTCT là số nguyên (nếu số hàng thập phân bằng hoặc lớn hơn 0,5 thì làm tròn số thành 01 đơn vị).

– Lúc tính tỉ lệ % TTCT của một bộ phận thân thể có tính chất đối xứng, hiệp đồng công dụng nhưng mà một bị đơn tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đã được xác định, thì tính cả tỉ lệ % TTCT đối với bộ phận bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đó.

– Lúc giám định, căn cứ tổn thương thực tiễn và mức độ tác động của tổn thương tới cuộc sống, nghề nghiệp của người cần giám định, giám định viên giám định, xác định tỉ lệ % TTCT trong khung tỉ lệ tương ứng với Bảng tỉ lệ % TTCT.

– Đối với các bộ phận thân thể đã bị mất công dụng, nay bị tổn thương thì tỉ lệ % TTCT được tính bằng 30% tỉ lệ % TTCT của bộ phận đó.

– Trường hợp trên cùng một người cần giám định nhưng mà vừa phải giám định pháp y lại vừa phải giám định pháp y thần kinh (theo quyết định trưng cầu/yêu cầu), thì tổ chức giám định thực hiện giám định sau tổng hợp (cộng) tỉ lệ % TTCT của người cần giám định theo phương pháp xác định tỉ lệ % TTCT quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT.

3. Phương pháp xác định tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể:

Tỉ lệ thương tật xác định theo % được quy định cụ thể và cụ thể tại Phụ lục số 01 Thông tư 22/2019/TT-BYT quy định về tỉ lệ tổn thương thân thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y thần kinh, cụ thể như một số tổn thương:

Liệt: Liệt tứ chi mức độ nhẹ (61-63%); Liệt hoàn toàn nửa người (85%); Liệt hoàn toàn một tay hoặc một chân (61%)

Tổn thương ruột non: Tổn thương gây thủng (Thủng một hoặc hai lỗ đã xử trí 26-30%; Thủng từ ba lỗ trở lên đã xử trí 31-35%); Tổn thương phải cắt đoạn ruột non dưới một mét (Cắt đoạn thuộc hỗng tràng 36-40%; Cắt đoạn buộc hồi tràng 46-51%); Tổn thương phải cắt bỏ ruột non dài trên một mét, có rối loạn tiêu hóa (Cắt đoạn thuộc hỗng tràng 46-51%; Cắt đoạn thuộc hồi tràng 55-60%; Tổn thương phải cắt bỏ gần hết ruột non có rối loạn tiêu hóa trầm trọng, tác động nặng nề tới dinh dưỡng 81-85%

Thận: Cắt bỏ một thận, thận còn lại phổ biến 41-45%; Cắt bỏ một phần thận, thận còn lại phổ biến thường 21-25%.

Các tổn thương khác của hệ tiêu hóa: Phẫu thuật xử trí tổn thương ở mạc nối, mạc treo (Thủng mạc treo, mạc nối nhưng ko tổn thương mạch 3 – 5%; Khâu cầm máu thuần tuý 21-25%; Khâu cầm máu và cắt một phần mạc nối 31%)

Việc xác định tỉ lệ % tổn thương thân thể (TTCT) căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT được tính theo phương pháp cộng dưới đây:

Tổng tỉ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 +…+ Tn

Trong đó:

T1: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ nhất: T1 được xác định là tỉ lệ % tổn thương nằm trong khung tỉ lệ các TTCT;

T2: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ hai: T2 = (100 – T1) x tỉ lệ % TTCT thứ 2/100;

T3: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ ba: T3 = (100-T1-T2) x tỉ lệ % TTCT thứ 3/100;

Tn: Tỉ lệ % TTCT của tổn thương thứ n: Tn= {100-T1-T2-T3-…-T(n-1)} x tỉ lệ % TTCT thứ n/100.

Việc xác định tỉ lệ thương tật được thực hiện theo các quy định của Luật giám định tư pháp 2012. Trong rất nhiều trường hợp, đây là yếu tố quan trọng xác định một người phạm tội hay ko phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự.

TƯ VẤN MỘT TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ:

Tóm tắt câu hỏi:

Xin Luật sư có thể tư vấn giúp tôi vấn đề này được ko ạ? Tôi bị 1 tên đâm vào bụng – trong giấy y chứng ghi: vết thương thấu bụng dưới rốn (=3cm) có lòi ruột non (thủng 2 lỗ ruột non + 3 lổ mạc treo + vết thương dài 4cm dưới cằm. Căn cứ vào cách tính cơ bản của thông tin qui định tỉ lệ tổn thương thân thể theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT và bảng tính tỉ lệ TT đính kèm (Chương 4: Tỉ lệ phần trăm tổn thương thân thể do tổn thương hệ tiêu hóa – phần III: Tổn thương ruột non: Thủng 1 hoặc 2 lổ đã xử trí: 26-30% và phần X: Các tổn thương khác của hệ tiêu hóa: Phẫu thuật xử trí tổn thương ở mạc nối, mạc treo: Khâu cầm máu thuần tuý 21 – 25%. Vậy nên có thể tính: T1 = 30%, T2= (100 – 30) x 25% = 17.5%. Tổng tỉ lệ thương tật T = T1 + T2 = 47,5% Vậy xin tư vấn cho tôi cách tính tổng này có đúng hay ko? Xin thật tâm cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Tỉ lệ thương tật là một trong những yếu tố quan trọng để xác định mức độ nguy hiểm của tội phạm, theo đó có thể bị truy tố theo Điều 134, 135, 136, 137, 138, 139 Bộ luật hình sự năm 2015 về tội cố ý, vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

Tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT Quy  định về phương pháp xác định tỉ lệ tổn thương thân thể như sau:

Cach-tinh-ty-le-thuong-tat

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT công thức tính tổng tỉ lệ tổn thương thân thể của bạn lúc sức khỏe bị xâm phạm như sau:

Tổng tỉ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 +…+ Tn

Theo thông tin bạn bị đâm vào bụng, trong giấy y chứng ghi: vết thương thấu bụng dưới rốn (=3cm) có lòi ruột non (thủng 2 lỗ ruột non) + 3 lỗ mạc treo + vết thương dài 4cm dưới cằm

Thứ nhất là tổn thương ruột non (thủng một hoặc hai lỗ đã xử trí), mức phần trăm tổn thương từ 26 – 30% theo Thông tư 22/2019/TT-BYT . Tương tự T1 có thể là 26%, 27%, 28%, 29% hoặc 30% tùy theo giám định viên giám định. Giả sử ở đây T1 = 30%

Thứ hai là tổn thương 3 lỗ mạc treo và vết thương dài 4cm dưới cằm căn cứ theo Thông tư 22/2019/TT-BYT tổn thương này đưa vào phần các tổn thương khác của hệ tiêu hóa: Phẫu thuật xử trí tổn thương ở mạc nối, mạc treo: khâu cầm máu thuần tuý mức phần trăm tổn thương từ 21 – 25%. Tương tự % tổn thương thân thể thứ 2 ở đây có thể là 21%, 22%, 23%, 24%, 25% tùy theo giám định viên giám định. Giả sử ở đây là 25%

=> T2 = (100 – T1) x tỉ lệ % TTCT thứ 2/100 = (100 – 30) x 25% = 17,5%

=> Tổng tỉ lệ thương tật của bạn là TTCT = 30% + 17,5% = 47,5%

Tương tự cách tính và căn cứ của bạn như trên là đúng, nhưng cần phải căn cứ theo những quy định pháp luật mới, ngoài ra còn phụ thuộc vào bên giám định y khoa họ rà soát phần thương tích và đưa ra từng mức tổn thương cụ thể dựa trên Luật giám định tư pháp 2012 và Thông tư 22/2019/TT-BYT. Lúc có được tổng mức tỉ lệ tổn thương thân thể, bạn có thể căn cứ theo những quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như tại Điều 134 như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 11% tới 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo ko giam giữ tới 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng tới 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;

b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;

c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;

e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ nhưng mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác ko có khả năng tự vệ;

g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;

h) Có tổ chức;

i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

k) Phạm tội trong thời kì đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành quyết phạt tù hoặc đang bị vận dụng giải pháp đưa vào cơ sở giáo dục buộc phải, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện buộc phải;

l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;

m) Có tính chất côn đồ;

n) Tái phạm nguy hiểm;

o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 11% tới 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm tới 05 năm.

3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 31% tới 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm tới 07 năm.

4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 31% tới 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm tới 12 năm.

5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể 61% trở lên, nếu ko thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn tới chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm tới 15 năm.

6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm tới 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể 61% trở lên.

7. Người sẵn sàng phạm tội này, thì bị phạt cải tạo ko giam giữ tới 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng tới 02 năm.

Từ những thông tin trên bạn có thể xác định được mức phạt trong bộ luật hình sự lúc người ta cố ý gây thương tích cho bạn tương tự sẽ bị phạt bao nhiêu năm tù hoặc bị vận dụng khoản phạt bao nhiêu.

3. Giám định tỉ lệ thương tật bao nhiêu % lúc đánh nhau:

Tóm tắt câu hỏi:

Em trai tôi bị một thanh niên trong xóm đánh và phải nhập viện. Tôi muốn hỏi giờ tôi phải làm thế nào để giám định tỉ lệ thương tật của em trai tôi để có thể yêu cầu khởi tố cậu thanh niên kia về tội cố ý gây thương tích. Mong Luật sư tư vấn giúp tôi.

Luật sư tư vấn:

Trước hết, theo Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

“Bắt buộc phải trưng cầu giám định lúc cần xác định:

1. Tình trạng thần kinh của người bị cáo buộc lúc có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng thần kinh của người làm chứng hoặc bị hại lúc có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng mực về những tình tiết của vụ án;

2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc khắc phục vụ án và ko có tài liệu để xác định xác thực tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

3. Nguyên nhân chết người;

4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim loại quý, ruby, đồ cổ;

6. Mức độ ô nhiễm môi trường.”

Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 2 Luật giám định tư pháp 2012 quy định:

“Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng”

Tương tự, đối với trường hợp của em trai bạn, Thủ trưởng cơ quan dò hỏi, Viện trưởng Viện kiểm sát,… sẽ có quyền ra quyết định trưng cầu giám định về tỉ lệ thương tật chứ em trai bạn ko thể tự đi giám định thương tật được. Theo đó, em trai bạn cần làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích đối với hành vi của người thanh niên trong xóm kia rồi trình lên cơ quan công an cấp huyện. Sau đó, cơ quan công an sẽ thực hiện các bước tố tụng và trưng cầu giám định tỉ lệ thương tật của em trai bạn.

Nếu tỉ lệ thương tật của em trai bạn từ “11% trở lên, hoặc có thể dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại các điểm từ a tới k của Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015…” thì có đủ căn cứ để cơ quan dò hỏi ra quyết định khởi tố vụ án đối với tội cố ý gây thương tích.

Ngoài ra, nếu ko đủ căn cứ khởi tố hình sự, em trai bạn có quyền khởi kiện dân sự đòi bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm về sức khỏe, tính mệnh. Các khoản được bồi thường được quy định tại Điều 590, Điều 591 Bộ luật dân sự 2015.

4. Thời hạn yêu cầu giám định thương tật trong tố tụng hình sự:

Tóm tắt câu hỏi:

Có quy định nào của pháp luật quy định cụ thể về thời hạn, hiệu lực trong trưng cầu giám định thương tật do bị đánh ko thưa Luật sư?

Luật sư tư vấn:

Hiện nay, liên quan tới các quy định về trưng cầu giám định thương tật bạn cần xem xét các văn bản pháp lý như sau:

+ Luật giám định tư pháp 2012

+ Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/07/2013 của Chính phủ

Nếu như quy định cụ thể về thời hạn và hiệu lực trong trưng cầu giám định thương tật do bị đánh thì bạn xem xét các quy định trong Luật giám định tư pháp 2012 như sau:

“Điều 21. Quyền, nghĩa vụ của người trưng cầu giám định tư pháp

1. Người trưng cầu giám định có quyền:

a) Trưng cầu tư nhân, tổ chức quy định tại khoản 4 Điều 2 của Luật này thực hiện giám định;

b) Yêu cầu tư nhân, tổ chức quy định tại điểm a khoản 1 Điều này trả kết luận giám định đúng nội dung và thời hạn đã yêu cầu;

c) Yêu cầu tư nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giảng giải kết luận giám định.

2. Người trưng cầu giám định có nghĩa vụ:

a) Lựa chọn tổ chức hoặc tư nhân thực hiện giám định thích hợp với tính chất, yêu cầu của vụ việc cần giám định;

b) Ra quyết định trưng cầu giám định bằng văn bản;

c) Cung ứng thông tin, tài liệu có liên quan tới nhân vật giám định theo yêu cầu của tư nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp;

d) Tạm ứng chi phí giám định tư pháp lúc trưng cầu giám định; trả tiền kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho tư nhân, tổ chức thực hiện giám định lúc nhận kết luận giám định;

đ) Đảm bảo an toàn cho người giám định tư pháp trong quá trình thực hiện giám định hoặc lúc tham gia tố tụng với tư cách là người giám định tư pháp.

Điều 22. Quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giám định tư pháp

1. Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng trưng cầu giám định. Trường hợp cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng ko chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày thu được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định.

2. Người yêu cầu giám định có quyền:

a) Yêu cầu tư nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trả kết luận giám định đúng thời hạn đã thỏa thuận và theo nội dung đã yêu cầu;

b) Yêu cầu tư nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giảng giải kết luận giám định;

c) Yêu cầu Toà án triệu tập người giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giảng giải, trình diễn về kết luận giám định;

d) Yêu cầu cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng trưng cầu giám định lại; yêu cầu giám định bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Người yêu cầu giám định tư pháp có nghĩa vụ:

a) Cung ứng thông tin, tài liệu có liên quan tới nhân vật giám định theo yêu cầu của người giám định tư pháp và chịu trách nhiệm về tính xác thực của thông tin, tài liệu do mình cung ứng;

b) Nộp tạm ứng chi phí giám định tư pháp lúc yêu cầu giám định; trả tiền kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho tư nhân, tổ chức thực hiện giám định lúc nhận kết luận giám định.

4. Người yêu cầu giám định chỉ được thực hiện quyền tự yêu cầu giám định trước lúc Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.”

=> Thời hạn và thời hiệu sẽ phụ thuộc vào yêu cầu của người có yêu cầu giám định.

5. Xác định thương tật đối với tội cố ý gây thương tích:

Tóm tắt câu hỏi:

Em có 2 người bạn, bị 1 người làm cùng công trường xây dựng đánh & họ đã phản kháng. Bị đơn bạn em đánh đã ra sức an trình báo và vào bệnh viện làm giấy chứng thực thương tích: rách 3cm ở vành tai, gãy cung sau 3 xương sườn, rạn xương gò má nhưng ko ghi tỉ lệ thương tật là bao nhiêu %. Sau lúc người này ra viện thì 2 bên đã thực hiện hoà giải tại công trường & bồi thường tiền. Giờ bị đơn đánh có làm đơn bãi nại ra sức an thì phía công an yêu cầu phải có giấy chứng thực thương tích. Em muốn hỏi là với tình trạng thương tật tương tự, bị đơn đánh bãi nại thì bạn em có bị khởi kiện theo luật hình sự ko ạ? Em xin thật tâm cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung ứng thì bạn của bạn có hành vi gây thương thích cho người khác. Căn cứ Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì nếu người nào cố ý gây thương tích cho người khác với tủ lệ tổn thương thân thể từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các điểm a tới k khoản 1 Điều 134 thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội cố ý gây thương tích.

Vì bạn của bạn chưa giám định tỉ lệ thương tật nên chưa có căn cứ để xem xét bạn của bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay ko.

Căn cứ Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại:

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự lúc có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thần kinh hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan dò hỏi, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì ko có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.”

Bị đơn hại đã làm đơn bãi nại cho bạn của bạn, tuy nhiên ko phải tất cả các hành vi phạm tội nếu được bãi nại là ko bị xử lý hình sự. Căn cứ quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nếu người bị hại có đơn bãi nại thì cơ quan pháp luật sẽ ko xử lý đối với 11 tội danh trong đó có quy định: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Khoản 1, Điều 134  Bộ luật Hình sự 2015).

Tương tự phải xác định được tỉ lệ tổn thương thân thể của người bị đánh thì mới biết bạn của bạn phạm tội theo khoản mấy của Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 để công an có cơ sở khắc phục. Theo đó:

– Nếu sau lúc giám định tỉ lệ tổn thương thân thể nhưng mà bạn của bạn bị khởi tố vụ án hình sự về tội theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, bên phía người bị hại có làm đơn đơn bãi, thì cơ quan dò hỏi sẽ đình chỉ vụ án và bạn của bạn ko bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa

– Nếu sau lúc giám định tỉ lệ tổn thương thân thể nhưng mà bạn bị khởi tố vụ án hình sự về tội theo khoản 2, 3, 4, 5 hoặc 6 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, thì cho dù có đơn bãi nại của người bị hại bạn của bạn vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng việc người bị hại làm đơn bãi nại có thể là căn cứ để Tòa án giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bạn của bạn.

6. Giám định tỉ lệ thương tật lúc bị người khác chém đứt gân tay:

Tóm tắt câu hỏi:

Xin hỏi Luật sư: Bị chém đứt gân tay đi viện nối lại thì giám định thương tật được tính bao nhiêu %. Cơ quan nào đủ điều kiện giám định? Người bị chém cầm dao xông vào nhà chém người, bị bắt dao chém lại đứt gân tay, gia đình đã khắc phục hậu quả là đưa đi viện trả tiền viện phí, người bị chém ko kiện tụng gì và có đơn hòa giải. Đây là 2 anh em con chú con bác xin hỏi Luật sư có bị truy tố ko? 

Luật sư tư vấn:

Bạn nêu người bị hại bị chém đứt gân tay đi viện nối lại. Trong trường hợp này chúng tôi ko thể đưa ra được con số xác thực về tỉ lệ thương tật của người bị chém. Tuy nhiên, gia đình bạn có thể tham khảo các quy định dưới đây:

Theo khoản 2, khoản 3, Điều 2, Luật giám định tư pháp 2012 thì người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng. Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau lúc đã đề xuất cơ quan thực hiện tố tụng, người thực hiện tố tụng trưng cầu giám định nhưng mà ko được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan tới việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.

Không những thế theo Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về trưng cầu giám định như sau:

Bắt buộc phải trưng cầu giám định lúc cần xác định:

1. Tình trạng thần kinh của người bị cáo buộc lúc có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ; tình trạng thần kinh của người làm chứng hoặc bị hại lúc có sự nghi ngờ về khả năng nhận thức, khả năng khai báo đúng mực về những tình tiết của vụ án;

2. Tuổi của bị can, bị cáo, bị hại nếu việc đó có ý nghĩa đối với việc khắc phục vụ án và ko có tài liệu để xác định xác thực tuổi của họ hoặc có nghi ngờ về tính xác thực của những tài liệu đó;

3. Nguyên nhân chết người;

4. Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khoẻ hoặc khả năng lao động;

5. Chất ma tuý, vũ khí quân dụng, vật liệu nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, tiền giả, vàng, bạc, kim loại quý, ruby, đồ cổ;

6. Mức độ ô nhiễm môi trường.

Tương tự, căn cứ theo quy định trên, người bị chém có quyền yêu cầu cơ quan dò hỏi thực hiện trưng cầu giám định thương tích do bị chém để xác định được tỉ lệ thương tật. Nếu như thấy việc giám định là cần thiết thì có quan dò hỏi sẽ thực hiện thủ tục trưng cầu giám định. 

giam-dinh-ty-le-thuong-tat-khi-bi-chem-dut-gan-tay

Luật sư tư vấn về hành vi cố ý gây thương tích cho người khác :

Căn cứ theo Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định về Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại thì chỉ được khởi tố vụ án hình sự lúc có yêu cầu của bị hại về tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 Bộ luật hình sự 2015.

Và khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ tổn thương thân thể từ 11% tới 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo ko giam giữ tới 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng tới 03 năm:

– Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

– Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

– Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ nhưng mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác ko có khả năng tự vệ;

– Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

– Có tổ chức;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

– Trong thời kì đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành giải pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành giải pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục buộc phải, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện buộc phải;

– Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

– Có tính chất côn đồ;

– Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Tương tự, để xem xét về vấn đề người chém có bị khởi tố hay ko thì phải phụ thuộc vào tỉ lệ thương tật của người bị chém cũng như là hành vi của người chém lúc thực hiện tội phạm như thế nào? Vì bạn cung ứng thông tin chưa đầy đủ, nên chúng tôi sẽ khắc phục vấn đề của bạn theo các trường hợp như sau:

– Do hành vi của người của người chém là dùng dao – hung khí nguy hiểm gây ra thương tích cho người khác và nếu tỉ lệ thương tật dưới 11% thì hành vi của người thân của bạn sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015. Vì vậy, lúc người yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ theo quy định của Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. 

– Nếu người chém gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng mà tỉ lệ thương tật từ 11% trở lên và kèm theo hành vi dùng hung khí nguy hiểm thì trong trường hợp này người chém có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015. Và việc khởi tố vụ án hình sự sẽ ko phụ thuộc vào yêu cầu khởi tố của người bị hại nhưng mà bất kỳ lúc nào cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện được tín hiệu của tội phạm thì người thân của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi của mình gây ra. Do đó, nếu việc người bị hại hay gia đình người bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố ở đây thì người có hành vi vi phạm vẫn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc rút đơn của người bị hại chỉ được Tòa án là các tình tiết giảm nhẹ tội cho người chém để xem xét mức hình phạt.

[rule_{ruleNumber}]

#Cách #xác #định #tỷ #lệ #thương #tật #là #bao #nhiêu #phần #trăm

[rule_3_plain]

#Cách #xác #định #tỷ #lệ #thương #tật #là #bao #nhiêu #phần #trăm

[rule_1_plain]

#Cách #xác #định #tỷ #lệ #thương #tật #là #bao #nhiêu #phần #trăm

[rule_2_plain]

#Cách #xác #định #tỷ #lệ #thương #tật #là #bao #nhiêu #phần #trăm

[rule_2_plain]

#Cách #xác #định #tỷ #lệ #thương #tật #là #bao #nhiêu #phần #trăm

[rule_3_plain]

#Cách #xác #định #tỷ #lệ #thương #tật #là #bao #nhiêu #phần #trăm

[rule_1_plain]

Nguồn:chinphu.vn
Phân mục: Tin tức

#Cách #xác #định #tỷ #lệ #thương #tật #là #bao #nhiêu #phần #trăm

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button