Tin Tức

Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời phải ko?Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài viết hay khác tại đây => Tin tức

cai toi doc dao cua tan da trong bai hau troi

2 Bài văn mẫu viết cảm nhận về Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

1. Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời, mẫu số 1

Tản Đà (1889-1939) là bút danh của Nguyễn Khắc Hiếu. Là thi sĩ tài giỏi, tên tuổi chói sáng trên thi đàn Việt Nam những năm 20 của thế kỉ XX. Viết văn làm thơ. Tác phẩm gồm có: Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Khối tình con, Tản Đà vận văn,… Ông là người dịch thơ Đường hay nhất ở nước ta. Cái tôi lãng mạn bay bổng là hồn thơ của Tản Đà: đượm đà, thiết tha, buồn nhiều nhưng vẫn gắn bó với quê hương, quốc gia. Hoài Thanh xem Tản Đà là “người của hai thế kỉ” vì thơ ông là cái vạch nối giữa hai nền văn học của dân tộc: cổ điển và hiện đại.

Bạn đang xem: Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Trong sáng tác văn học, ko phải người nào cũng trình bày được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tôi gắn liền với phong cách thông minh của một người cầm bút. Điều đó yêu cầu người viết phải trình bày được cái riêng có trị giá thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung. Tản Đà-nhắc tới thi nhân là nhắc tới “xê dịch, ngông và đa tình”. Ba yếu tố đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam. Nhưng có nhẽ, cái tôi lạ mắt của thi sĩ đã trình bày trong “Hầu Trời” là một cái tôi ngông rất lạ. “Ngông” ko phải chỉ định một kiểu xử sự xã hội và nghệ thuật khác. Cái ngông ở đây được nói tới là ngông dựa trên khả năng mình có, tức là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những sở thích riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm.

phan tich cai toi doc dao cua tan da trong bai tho hau troi

Bài văn cảm nhận về Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời hay nhất

Chất ngông thương được trình bày bởi các nhà văn, thi sĩ có ý thức cao độ về cái tài và cái tình. Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để “đóng dấu” hình ảnh của mình với thời kì. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thử thách với cuộc đời, với người đời và cũng bởi trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách ko thể trộn lẫn với một người nào khác. Và cái ngông đấy trong “Hầu Trời” đã tạo ra cho thi sĩ một cái tôi lạ mắt.

Thi sĩ ý thức thâm thúy về tài năng của mình. Vì vậy tiếng ngâm thơ “vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ là ở chỗ đấy.

“Đêm qua chẳng biết có hay ko
Chẳng phải thảng thốt ko mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật than thể
Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”.

Cái duyên được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cảm hứng của thi sĩ. Chuyện tưởng tượng nhưng như thật, có nhẽ cái tôi độc dáo của Tản Đà là ở chỗ vào đề tự nhiên, quyến rũ nhưng có duyên. Để thế gian thấy tài năng của thi sĩ đã khó vậy nhưng ngay tới Trời còn say mê, chư tiên thích thú thì thật lạ lùng. Vậy mới thấy được cái ngông của thi sĩ bộc lộ mạnh mẽ qua bài Hầu Trời. Đã có dịp được lên Thiên tào, vì thế Tản Đà tranh thủ “quảng cáo” tài năng của bản thân:

“Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc
Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè Trời nhấp giọng càng tốt hơi.”

Tác giả đọc thơ rất tự tin, khoe tài của mình, đọc cao hứng và nhập thân vào tác phẩm. Qua đó bộc lộ cái tôi in đậm phong cách cái tôi tư nhân tự ý thức của chính ông. Sẵn tiện thi sĩ giới thiệu luôn những tác phẩm của mình:

“Bẩm con ko dám man cửa Trời
Những áng văn con in cả rồi
Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Đài gương, Lên sáu văn vị đời
Quyển Phụ nữ Tàu lối văn dịch
Tới quyển Lên tám nay là mười
Nhờ Trời văn con còn bán được
Chửa biết con in ra mấy mươi?”

Thi sĩ có vẻ rất đắc ý bởi ông ý thức được cái tài của mình. Khẳng định bản ngã cái tôi phóng túng, ý thức tài năng trị giá của mình giữa cuộc đời. Trước Tản Đà các nhà nho tài tử đều hết thảy thị tài nhưng chữ tài nhưng họ nói tới nhiều lúc mang một nội hàm khá rộng. Họ ko dám nói tới cái hay, cái “tuyệt” của thơ mình, hơn nữa, lại nói trước mặt Trời. Rõ ràng ý thức tư nhân ở thi sĩ đã tăng trưởng rất cao độ. Chính vì vậy nhưng tới Trời cũng phải tán thưởng:

“Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong một bài cùng vỗ tay.”

“Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít
Nhời văn chuốt đẹp như sao đổi ngôi!
Khí văn hung mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!

Chính vì tình yêu văn học, ông mới tự tin sáng tác, chuyển tải những tư tưởng tình cảm mới mẻ vào trang thơ. Hình như với ông, hầu Trời là khoảnh khắc đẹp nhất. Vì thế ông mới đem cái tài của mình để trình bày trước Trời cùng chư Tiên. Và lúc này quan niệm mới mẻ của ông được bộc lộ: sáng tác văn học là một nghề. Dù ko bộc lộ trực tiếp nhưng đằng sau các câu chữ ta vẫn thấy có một sự tưởng tượng khác trước về hoạt động ý thức đặc thù này. Với Tản Đà, văn học là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ sắm, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp, ko dễ chiều. Đặc trưng hơn dương như thi sĩ đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải có vốn để theo đuổi nó:

“Nhờ Trời văn con còn bán được
Vốn liếng còn một bụng văn đó”

Thật ngang tang lúc thi sĩ muốn “gánh văn” lên Trời để bán.

“Chư tiên ước ao tranh nhau dặn:
Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”

Làm náo động thiên cung bằng những lời văn giàu thay lắm lối, nay thi sĩ còn muốn văn của ông được lan rộng cung đình để mọi người biết tới ông- một tài năng thực thụ của trần thế. Thế mới thấy được cái tôi mạnh mẽ tới nhường nào.

Qua bài thơ “Hầu Trời” ko ngừng lại ở đó, Tản Đà còn vạch ra thực tiễn phũ phàng: tài năng ko thống nhất với số phận. Ở cuộc đời thi sĩ thiếu tri kỉ, tri kỉ và bất hòa với cuộc đời:

“Văn học hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.”

Vì vậy ông khát khao lên Trời đọc thơ và tìm được người tri kỉ. Chỉ có Trời và chư tiên mới hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ ông. Và lời Trời khen hắn là sự thẩm định có sức nặng nhất, ko thể không chấp nhận, nghi ngờ. Đúng là lối tự khẳng định rất ngông ngạo của thi sĩ.

Để Trời hiểu thơ, khen văn thơ tuyệt, Tản Đà liền đó “tâu trình” rõ ràng thân thế của mình, thích hợp hoàn toàn mạch chuyện:

“Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa Cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”.

Khác người xưa, Tản Đà đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lý lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, châu lục, tên hành tinh. Qua đó ông trình bày niềm yêu nước tha thiết, đầy tự hào về bản thân, ý thức tư nhân tự trọng dân tộc thâm thúy. Một cái tên- tên thật chứ ko phải tự hay hiệu- nhưng được nói ra trịnh trọng tới vậy hẳn thi sĩ phải thấy có một trị giá ko thể phủ nhận gắn liền với nó. Cũng qua câu thơ, tác giả ngầm giới thiệu bút hiệu của mình. Tản Đà là con người khoe tài, thị tài và rất ngông cho nên trước chư tiên ko bao giờ kiềm chế nhưng một thể hiện hết tài hoa của mình.

Từ đầu tới cuối thi sĩ đều tự tin về tài năng của bản thân và một lần nữa Tản Đà lại khẳng định rất “ngông”, của kẻ vốn đã “ngông” lúc nhận mình là “trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Thi sĩ khẳng định tài năng và thân phận “khác thường của mình”.

Sự khác thường đặc thù này còn nằm ở việc thi sĩ được thừa nhận là một người thân Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả”việc thiên lương của nhân loại”, “Trời rằng ko phải Trời đày, Trời định sai con một việc này, Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay”. Một lần nữa cái ngông đấy lại được thổi vào trong ý thơ. Nhưng cái ngông đấy chẳng qua là vì nó đối lập lại với cả xã hội bất công, vì ông phải đi làm mướn việc là tìm lại thiên lương vốn đang bị mai một của con người:

“Hai chữ thiên lương thằng Hiếu nhớ
Dám xin ko phụ Trời trông mong”

Thi sĩ ý thức về tư cách, một tư cách vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc về lợi danh. Nó đối lập với cái xã hội bất công vụ lợi, chạy theo đồng tiền và lợi danh thời bấy giờ.

Cuối cùng thi sĩ vẫn muốn khẳng định, tự khen thơ mình. Thơ thi nhân không những đẹp nhưng còn ẩn chứa những ý niệm cừ khôi về cuộc đời, về thiên lương, nhân sinh toàn cầu quan… Tóm lại là tất cả những gì nhân loại cần có để vươn tới cái chân- thiện- mỹ. Thoát ra khỏi quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, Tản Đà thực sự thăng hoa trong toàn cầu nghệ thuật, bộc lộ xúc cảm cái tự do tư nhân mới mẻ của riêng mình.

Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta ko thấy cái ngông tới mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng ko thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối trình bày riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự thay đổi, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản nhưng nếu như thiếu nó thì sẽ ko thể “ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng lạ mắt, nhưng ấn tượng đặc thù, ko thể nào phai trong lòng người đọc và ko lẫn với cái ngông của thi sĩ nào khác.

Bài thơ “Hầu Trời” đã kết tinh cái tôi của Tàn Đà. Nhưng ko chỉ trên phương diện nội dung, những nét lạ mắt và mới mẻ còn làm nên cái tôi trong nghệ thuật. Có nhẽ “Hầu Trời” có vẻ quá dài nhưng chính điều đó lại tạo cho bài thơ giàu yếu tố tự sự. Hơn thế, nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên,sống động của xúc cảm tư nhân, cá thể của thơ cho phép thi sĩ thoát khỏi những ràng buộc quá khe khắt về hình thức để tự do vẫy vùng trình bày tư tưởng tình cảm của mình. Thể thơ thất ngôn trường thiên được viết một cách phóng túng, tự do theo phong cách riêng của thi sĩ.

Tuy nhiên, “Hầu Trời” còn đáng chú ý với hiện tượng chia khổ, các khổ có độ dài không giống nhau tạo nên xúc cảm tự do và nét mới trong thơ văn. Cách trình bày của Tản Đà đã vượt ra khỏi quy pham nội dung và nghệ thuật, muốn phá cách để trình bày rõ cái tôi của ông.

Nét lạ mắt trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố không giống nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam.

—————- HẾT BÀI 1 —————-

Sau lúc tham khảo bài viết cảm nhận về cái tôi lạ mắt của Tản Đà qua bài thơ Hầu Trời, các em có thể Xem thêm các bài văn mẫu hay liên quan tới bài Hầu trời trên https://chinphu.vn/ như Cảm tưởng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà, Soạn văn lớp 11 – Hầu trời, Cái tôi phóng túng, ngông nghênh và khát khao khẳng định chính mình giữa cuộc đời của Tản Đà qua bài thơ Hầu Trời, Cảm tưởng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà,…
 

2. Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời, mẫu số 2

Thi sĩ Xuân Diệu từng nói rằng: “Tản Đà là thi sĩ trước hết, mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã có dũng cảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một cái tôi”. Bằng khả năng của mình, Tản Đà mang tới một luồng sinh khí mới cho nền văn học Việt Nam. Thi sĩ trực tiếp trình bày cái tôi bản ngã của mình một cách hết sức lạ mắt và mới mẻ. Và “Hầu Trời” là một trong những bài thơ kết tinh những nét riêng lạ mắt đó.

Tản Đà đã mạnh dạn trình bày “cái tôi” tư nhân – một “cái tôi” ngông nghênh, phóng túng lạ kì! Đó cũng là cách trình bày ý thức về tài năng, trị giá thực thụ của bản thân và khát khao được khẳng định mình giữa cuộc đời. Có thể tóm tắt nội dung bài thơ như sau: Đêm khuya thanh vắng, thi sĩ buồn nên đun nước pha trà uống rồi cất tiếng ngâm văn.Tiếng ngâm sang sảng vọng tới trời cao. Hai tiên nữ xuống truyền lệnh Trời đòi thi sĩ lên hầu chuyện. Thi sĩ được đón tiếp trọng vọng, được mời đọc văn thơ. Trời và chư tiên hết lời khen ngợi, tán thưởng. Trời truyền hỏi tính danh, thi sĩ kể lể tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn dưới hạ giới. Trời xoa dịu, khuyên nhủ, thi sĩ cảm kích lạy tạ ra về. Cuối cùng là cuộc chia tay đầy xúc động của thi sĩ với Trời và chư tiên.

Cách vào đề của bài thơ khá thú vị, khiến người đọc cảm thu được tài hư cấu nghệ thuật lạ mắt và lối dẫn dắt rất có duyên của Tản Đà :

Đêm qua chẳng biết có hay ko,
Chẳng phải hốt hoảng, ko mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể !
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

Giấc mơ đêm qua nhưng thi sĩ là người trong cuộc cũng ko biết rõ là có hay ko, thực hay hư. Nếu là mơ thì ắt hẳn ko thể có thực; nhưng mọi cụ thể, hình ảnh vẫn xuất hiện rõ ràng, nên ko thể ko tin. Bởi vậy nhưng ở ba câu tiếp theo, thi sĩ cả quyết khẳng định như đang hội thoại với người nghe kể vậy. Ngữ điệu mạnh mẽ làm nổi trội yếu tố thật : Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể! Thật được lên tiên – sướng lạ lùng. Tất cả đã khơi gợi sự hiếu kì và cuốn hút người nghe nhập cục.

phan tich cai toi tan da trong bai tho hau troi

Phân tích Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời để thấy được phong cách lạ mắt và sự tự ý thức về tài năng của tác giả

Ở những khổ thơ tiếp theo, thi sĩ đã kể về tình huống mình được Trời mời lên Thiên tào:

Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.
Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Mồm cười tủm tỉm cùng nói rằng :

– “Trời nghe hạ giới người nào ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà !
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua”.
Ước mãi hiện thời mới gặp tiên !
Người tiên nghe tiếng lại như quen !
Văn học nào có hay cho lắm
Trời đã sai gọi thời phải lên.
Theo hai cô tiên lên đường mây
Vù vù ko cánh nhưng như bay.
Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn đế khuyết như là đây !
Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy
Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy.
Ghế bành như tuyết vân như mây
Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy.

Tình huống câu chuyện kể từ Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà của thi sĩ dưới hạ giới làm cho Trời mất ngủ. Rõ ràng, cái duyên may được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cao hứng của thi sĩ. Hình như tác giả muốn nói rằng câu chuyện tuy ko có thật nhưng lại rất thật về tâm tư và nỗi niềm của mình. Chuyện bịa mười mươi nhưng xem ra rất tự nhiên, quyến rũ.

Lúc chư tiên đã tề tựu đông đủ, Trời liền: Truyền cho “văn sĩ đọc văn nghe!”. Được lời như cởi tấm lòng, thi sĩ vội vã kính cẩn: “Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc”. Thi sĩ đọc văn thơ của mình với tất cả sự phấn khích và thăng hoa của cảm hứng. Có nhẽ chưa bao giờ thi sĩ lại hứng thú tới tương tự. Ko để sót một khoảng trống nào của thời kì, thi sĩ đọc liền một mạch:

Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.

Thi sĩ cao hứng và tự mãn vì có nhẽ đây là dịp hiếm hoi để Trời và các chư tiên thưởng thức thơ của thi sĩ sông Đà, núi Tản. Thính giả nghe thơ khích lệ thật nhiệt thành. Các chư tiên đồng thanh tán thưởng và hồn nhiên bộc lộ sự hâm mộ qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, tiếng nói… Điều đó làm cho cảm hứng trong lòng thi sĩ mỗi lúc một dâng cao:

Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.
Thi sĩ cao hứng tự nhận:
Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!

Cuộc đọc văn đã khép lại nhưng ấn tượng thâm thúy của nó khiến :

Chư tiên ước ao tranh nhau dặn :
“Anh gánh lên đây bán chợ trời !”

Trời nghe thi sĩ đọc văn đã ko tiếc lời khen tặng và những lời khen đó chứng tỏ Trời có khả năng thẩm văn, thẩm thơ tinh tế :

Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt
Văn trần được thế chắc có ít.
Nhời văn chuốt đẹp như sao đổi ngôi!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết.

Đây là đoạn thơ thú vị, lạ mắt nhất trong bài. Tác giả cố tình mượn lời Trời để ngợi ca thơ văn mình. Rõ ràng ý thức về “cái tôi” tư nhân của Tản Đà rất cao và thi sĩ ko hề vô lí lúc tự khen tới thế:Văn đã giàu thay lại lắm lối. Lời văn, khí văn được so sánh với những vẻ đẹp tuyệt vời của tự nhiên: như sao đổi ngôi, như mây chuyển, như gió thoảng, như sương, như mưa sa, như tuyết… Tưởng chừng tinh hoa của núi Tản sông Đà đã được thu cả vào hồn thơ thi sĩ. Đoạn thơ trên đã khai thác tối đa tác dụng của các giải pháp tu từ để trình bày đầy đủ mọi cung bậc trầm bổng, mạnh mẽ, tinh tế và linh diệu của xúc cảm đang thăng hoa.

Tình huống Hầu Trời bất thần quả đã cho Tản Đà một thời cơ tuyệt vời để phô bày tài năng văn học của mình trước người đời. Thật thú vị lúc tất cả nhân vật trong câu chuyện đều có tâm trạng hứng khởi tột độ, từ thi sĩ tới chư tiên và nhất là Trời – một ông Trời khá bình dân trong cung cách cư xử, nói năng. Điều đáng chú ý là thi sĩ chỉ cao hứng tột độ như thế lúc gặp được người hiểu và thông cảm với mình nhưng thôi. Chứ dưới hạ giới, thi sĩ dễ đâu tìm được người tri kỉ tri kỉ tương tự?! Lời ban khen của Trời hẳn là sự thẩm định, giám định xác thực nhất, ko người nào có thể nghi ngờ hay không chấp nhận. Đúng là một cách tự khẳng định rất ngông, rất Tản Đà, xưa nay chưa từng có!

Người đọc có cảm giác như thi sĩ vô cùng tự hào lúc khẳng định và ngợi ca tài năng văn học của mình. Chưa có tác giả nào dám mạnh dạn, công nhiên như thế. Có nhẽ một cuộc cách mệnh về thơ ca thực sự đã được kể từ chính Tản Đà – thi sĩ được coi là “cây cầu nối” giữa thơ cũ và thơ mới.

Thể theo yêu cầu của Trời, thi sĩ tự xưng tên tuổi và thân thế :

“Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa Cầu
Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt”.
Trời ngợ một lúc lâu rồi sai Thiên tào rà soát lại:
Thiên tào tra sổ xét vừa xong
Đệ sổ trình lên Thượng đế trông
“Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông”.
Lúc đấy, Trời mới phán rằng :
Trời rằng: “Ko phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc “thiên lương” của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay”.

Được lời như cởi tấm lòng, Tản Đà trình diễn một mạch những nỗi niềm giận dữ của mình chất chứa lâu nay nay. Qua lời Trời, Tản Đà nói tới nhiệm vụ truyền bá thiên lương nhưng Trời ủy quyền, (giảng giải để nhân loại hiểu rằng lương thiện vốn là bản tính trời sinh). Điều đó chứng tỏ Tản Đà tuy lãng mạn, ngông nghênh nhưng ko hoàn toàn thoát li hiện thực nhưng vẫn có ý thức trách nhiệm với đời và khát khao được gánh vác việc đời. Đấy cũng là một cách tự khẳng định mình.

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong đoạn thơ dưới đây, thi sĩ lại sử dụng văn pháp tả thực cụ thể, tỉ mỉ tới từng cụ thể :

“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo túng
Trần gian thước đất cũng ko có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó.
Giấy người mực người thuê người in
Mướn shop người bán phường phố.
Văn học hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.
Lo ăn lo mặc hết tháng ngày
Học ngày một kém tuổi ngày cao
Sức trong non yếu ngoài chen rấp
Một cây che chống bốn năm chiều
Trời lại sai con việc nặng quá
Biết làm có được nhưng dám theo”.

Tản Đà ko trực tiếp phát biểu quan niệm của mình về văn học và nghề văn, tuy vậy người đọc vẫn có thể tưởng tượng ra phần nào về nội dung của hoạt động ý thức đặc thù này. Đối với Tản Đà, văn học ko còn thuần tuý là một khái niệm ý thức cừ khôi nhưng đã trở thành một nghề kiếm sống như bao nghề khác, có người bán kẻ sắm và thị trường văn học cũng hết sức phức tạp. Vì thế nhưng nhà văn, thi sĩ ko dễ thành công.

Tản Đà đã vẽ ra một bức tranh hiện thực trần truồng, nghiệt ngã về nghề văn bằng tiếng nói đời thường. Đó là cảnh sống nghèo khổ :Trần gian thước đất cũng ko có, thi sĩ đành phải mưu sinh bằng công việc viết văn, làm thơ và xuất bản nhưng vốn liếng chẳng có gì ngoài ngòi bút : Giấy người mực người thuê người in, Mướn shop người bán phường phố. Người nghệ sĩ phải cam chịu cảnh: Văn học hạ giới rẻ như bèo, Kiếm được đồng lãi thực rất khó. Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều, Lo ăn lo mặc hết tháng ngày… Kể tới đây, xúc cảm của thi sĩ chợt ngậm ngùi, chua chát, khác hẳn với xúc cảm trữ tình bay bổng, đắc ý lúc đọc thơ cho Trời nghe.

Tất cả những điều đấy đã xuất hiện nhiều lần trong thơ văn Tản Đà, một thi sĩ tài hoa hơn người nhưng cả đời phải sống trong tình cảnh nghèo khổ, quẫn bách:

Hôm qua chửa có tiền nhà,
Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào.
Đi ra rồi lại đi vào,
Quanh quẩn chỉ tốn thuốc lào vì thơ.

Về cuối đời, ông từng phải chuyển qua nghề xem tướng số để kiếm ăn sống lay lắt qua ngày; rồi mở lớp dạy Hán văn, quốc văn nhưng ko có học trò. Cuối cùng, ông chết trong cảnh túng thiếu, khốn cùng rất thương tâm!

Giấc mơ Hầu Trời phải chăng là bộc lộ tha thiết, mãnh liệt của khát vọng được khẳng định tài năng của thi sĩ giữa chốn văn học hạ giới rẻ như bèo và thân phận của người thông minh bị xã hội rẻ rúng, khinh lúc. Vậy thì chỉ có thể lên thiên tào thi sĩ mới có thể tìm được tri kỉ tri kỉ, nhưng chuyện này chỉ có thể xảy trong giấc mộng nhưng thôi ! Hình như Trời cũng thấu hiểu nỗi niềm giận dữ của thi sĩ nên thật tình khuyên nhủ:

Rằng : “Con ko nói Trời đã biết
Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết
Thôi con cứ về nhưng làm ăn
Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết !”.

Cuộc chia tay giữa thi sĩ với Trời và chư tiên diễn ra quyến luyến và xúc động. Ngày đã rạng, tiếng gà xao xác gáy. Thi sĩ tỉnh mộng nhưng ấn tượng về cuộc hầu Trời vẫn còn sốt dẻo khiến thi sĩ bâng khuâng tiếc nuối và ước ao đêm nào cũng được lên thiên tào để hầu Trời.

Câu chuyện về cuộc đọc văn Hầu Trời và các chư tiên đã phản ánh khá rõ tâm hồn và tính cách của Tản Đà – một thi sĩ ngông và hay sầu mộng. Đó là một Tản Đà ý thức rất rõ về tài năng của mình, dám tử tế, công khai trình bày và khẳng định một cách tự hào, tự mãn về cái tài văn học hơn người đấy. Thi sĩ chẳng ngần ngại tự khen nhưng còn mượn những lời tán tụng của Trời cùng các chư tiên để đề cao thơ văn mình. Điều đó xuất phát từ niềm hãnh diện của một hồn thơ đã hấp thụ được linh khí của sông Đà, núi Tản. Trong một bài thơ tự vịnh, Tản Đà đã tự hào viết :

Vùng đất Sơn Tây nảy một ông,
Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng.
Núi Tản sông Đà người nào un đúc,
Bút thánh câu thần sớm vãi vung…

“Cái tôi” đó cũng thật ngông lúc dám tìm lên tận thiên tào để khẳng định tài năng của mình trước các chư tiên và Ngọc Hoàng thượng đế!

Thái độ ngông trong văn học chính là phản ứng của những nghệ sĩ tài hoa, có phong cách mạnh mẽ, ko chịu trói mình trong phạm vi chật hẹp có sẵn. Ngông cũng là thái độ của những người trí thức có tư cách cứng cỏi, quay lưng ngoảnh mặt trước một xã hội bất công, nhiễu nhương nhưng họ ko chấp nhận. Ngông trong văn học bao giờ cũng gắn liền với tài hoa và tư cách của người cầm bút. Tản Đà ko phải là một trường hợp cá biệt trong văn học Việt Nam nhưng trước ông đã có quan Thượng Nguyễn Công Trứ với: Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng, ngửng cao đầu thử thách: Trong triều người nào ngất ngưởng như ông? Và chửi thói thường xấu xa bằng một câu thề như dao chém đá:Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời nhưng reo… Tú Xương thì chửi thẳng vào mặt cái xã hội thối nát, điên đảo: Người đời xác rồi còn đốt pháo, Tình nhân trắng thế lại bôi vôi…và định: Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng.

Tuy nhiên, cái ngông của Tản Đà có những điểm đặc thù do chịu tác động của buổi giao thời dở Tây dở ta. Tản Đà phản ứng xã hội bằng thái độ ngông của một nghệ sĩ tài hoa tài tử. Thái độ ngông nghênh, tự mãn dường như được thi sĩ cố ý phóng đại trong bài Hầu Trời cốt để gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Thi sĩ giám định văn mình hay tới mức Trời và các chư tiên phải hết lời tán thưởng. Như thế tức là dưới hạ giới, ko người nào xứng đáng là kẻ tri kỉ tri kỉ với mình. Tản Đà còn tự nhận mình là một vị trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội ngông, nhưng lại được Trời trao cho sứ mệnh cao cả làtruyền bá thiên lương cho nhân loại.

Việc thi sĩ tô vẽ nên chuyện Hầu Trời hàm chứa một sự thử thách đối với cái nhìn đầy thành kiến về bậc thang trị giá của con người trong xã hội tôn thờ đồng tiền, coi nhẹ các trị giá ý thức. Cáingông của Tản Đà có nhiều điểm tương đồng với cái ngông của Nguyễn Công Trứ trình bày qua bài Bài ca ngất ngưởng: Ý thức rất cao về tài năng của bản thân, dám nói giọng bông lơn về những nhân vật như Trời, Tiên, Bụt; dám khẳng định “cái tôi tư nhân” vượt ra ngoài phạm vi của luân lí, đạo đức Nho giáo.

Điểm khác lạ giữa hai người là Nguyễn Công Trứ tuy ngất ngưởng tột bậc nhưng vẫn giữ : Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung, còn Tản Đà lại ko coi đó là chuyện hệ trọng. Hơn nữa, cái tài nhưng Tản Đà muốn khoe thuộc phạm trù văn học chứ ko phải là cái tài “kinh bang tế thế” như Nguyễn Công Trứ. Rõ ràng, thi sĩ Tản Đà đã rũ bỏ được khá nhiều gánh nặng trách nhiệm nhưng thông thường các nhà Nho từ trước tới nay vẫn tự đặt trên vai mình (Vũ trụ nội mạc phi phận sự) để sống thoải mái hơn với quyền tự do tư nhân mới mẻ nhưng thời đại đưa tới.

Bài thơ Hầu Trời được viết theo thể thất ngôn trường thiên khá tự do về số lượng câu; bố cục theo lối tự sự, diễn biến câu chuyện theo trình tự thời kì. Vì tác giả là nhân vật chính nên xúc cảm bộc lộ tự nhiên, thoải mái và cách kể chuyện rất hóm hỉnh, có duyên. Tiếng nói bình dân và giọng điệu hí hước rất ăn ý, hoà hợp, hỗ trợ cho nhau nhằm trình bày sinh động thái độ hào hứng của thi sĩ trước một nhân vật đặc thù đang say sưa nghe mình đọc văn, ngâm thơ. Quan hệ giữa thi sĩ với Trời và chư tiên xem ra cũng dân dã, thân tình như giữa những người đồng thanh tương khí.

Lối kể bịa nhưng như thật và nụ cười hóm hỉnh tạo nên nội dung trữ tình của bài thơ, giúp người đọc hiểu sâu hơn về con người thi sĩ. Những yếu tố nêu trên là một phần thế tất của bài thơ, hoàn toàn xứng hợp với câu chuyện Hầu Trời nhưng tác giả hư cấu. Tiếng nói trong bài thơ rất thân thiện với lời ăn tiếng nói hằng ngày. Từ dùng nôm na, bình dị, lại được đặt trong ngữ điệu nói nên càng ý vị : Văn dài hơi tốt ran cung mây! Văn đã giàu thay, lại lắm lối… Trời nghe Trời cũng bật buồn cười… Chư tiên ước ao tranh nhau dặn,… Đặc trưng, dưới ngòi bút của tác giả, Trời và chư tiên ko có một tí gì là đạo mạo. Họ bộc lộ xúc cảm theo một cung cách rất đỗi… bình dân : lè lưỡi, chau mày, lắng tai đứng, vỗ tay, bật buồn cười, tranh nhau dặn,… Cứ tưởng tượng ra hình ảnh của các đấng cừ khôi nhưng có những cử chỉ, điệu bộ ngộ nghĩnh, rất “người” như thế, người nào nhưng chẳng buồn cười và khâm phục cách kể chuyện tự nhiên, sinh động của thi sĩ Tản Đà. Các đoạn hội thoại và mô tả phản ứng tâm lí của từng nhân vật đan xen với nhau khiến người đọc có cảm tưởng mình đang được chứng kiến hoặc tham gia vào câu chuyện, cùng nếm trải, san sẻ những phút sung sướng lạ lùng và đắc ý tột bậc của người kể chuyện.

Hầu Trời là bài một thơ hay, lạ mắt, có nhiều nét mới mẻ về mặt thi pháp, tiêu biểu cho tính chất giao thời giữa cái mới và cái cũ trong nghệ thuật thơ Tản Đà. Qua bài thơ, người đọc có thể trông thấy đôi điều về xu thế tăng trưởng của thơ ca Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỉ XX.

————– HẾT ————–

Sau lúc đã tham khảo bài văn mẫu cảm nhận cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời, để tiếp tục ôn tập, rèn luyện kỹ năng viết bài văn cảm nhận, phân tích, các em cần lưu tâm tới danh sách các bài văn hay lớp 11 của https://chinphu.vn/ như Phân tích bài thơ Chạy giặc, Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu, Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng, Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát,…

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo Dục


Xem thêm chi tiết: Cái tôi độc đáo của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Hình Ảnh về: Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Video về: Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Wiki về Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời -

cai toi doc dao cua tan da trong bai hau troi

2 Bài văn mẫu viết cảm nhận về Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

1. Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời, mẫu số 1

Tản Đà (1889-1939) là bút danh của Nguyễn Khắc Hiếu. Là thi sĩ tài giỏi, tên tuổi chói sáng trên thi đàn Việt Nam những năm 20 của thế kỉ XX. Viết văn làm thơ. Tác phẩm gồm có: Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Khối tình con, Tản Đà vận văn,… Ông là người dịch thơ Đường hay nhất ở nước ta. Cái tôi lãng mạn bay bổng là hồn thơ của Tản Đà: đượm đà, thiết tha, buồn nhiều nhưng vẫn gắn bó với quê hương, quốc gia. Hoài Thanh xem Tản Đà là “người của hai thế kỉ” vì thơ ông là cái vạch nối giữa hai nền văn học của dân tộc: cổ điển và hiện đại.

Bạn đang xem: Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời

Trong sáng tác văn học, ko phải người nào cũng trình bày được cái tôi của mình trên trang viết. Cái tôi gắn liền với phong cách thông minh của một người cầm bút. Điều đó yêu cầu người viết phải trình bày được cái riêng có trị giá thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung. Tản Đà-nhắc tới thi nhân là nhắc tới “xê dịch, ngông và đa tình”. Ba yếu tố đủ để làm nên một cái tôi riêng trong làng thơ Việt Nam. Nhưng có nhẽ, cái tôi lạ mắt của thi sĩ đã trình bày trong “Hầu Trời” là một cái tôi ngông rất lạ. “Ngông” ko phải chỉ định một kiểu xử sự xã hội và nghệ thuật khác. Cái ngông ở đây được nói tới là ngông dựa trên khả năng mình có, tức là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Người ngông tạo cho mình những sở thích riêng, khác người nhưng để lại những ấn tượng sâu đậm.

phan tich cai toi doc dao cua tan da trong bai tho hau troi

Bài văn cảm nhận về Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời hay nhất

Chất ngông thương được trình bày bởi các nhà văn, thi sĩ có ý thức cao độ về cái tài và cái tình. Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để “đóng dấu” hình ảnh của mình với thời kì. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thử thách với cuộc đời, với người đời và cũng bởi trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách ko thể trộn lẫn với một người nào khác. Và cái ngông đấy trong “Hầu Trời” đã tạo ra cho thi sĩ một cái tôi lạ mắt.

Thi sĩ ý thức thâm thúy về tài năng của mình. Vì vậy tiếng ngâm thơ “vang cả sông Ngân Hà” khiến Trời mất ngủ là ở chỗ đấy.

“Đêm qua chẳng biết có hay ko
Chẳng phải thảng thốt ko mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật than thể
Thật được lên tiên sướng lạ lùng!”.

Cái duyên được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cảm hứng của thi sĩ. Chuyện tưởng tượng nhưng như thật, có nhẽ cái tôi độc dáo của Tản Đà là ở chỗ vào đề tự nhiên, quyến rũ nhưng có duyên. Để thế gian thấy tài năng của thi sĩ đã khó vậy nhưng ngay tới Trời còn say mê, chư tiên thích thú thì thật lạ lùng. Vậy mới thấy được cái ngông của thi sĩ bộc lộ mạnh mẽ qua bài Hầu Trời. Đã có dịp được lên Thiên tào, vì thế Tản Đà tranh thủ “quảng cáo” tài năng của bản thân:

“Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc
Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè Trời nhấp giọng càng tốt hơi.”

Tác giả đọc thơ rất tự tin, khoe tài của mình, đọc cao hứng và nhập thân vào tác phẩm. Qua đó bộc lộ cái tôi in đậm phong cách cái tôi tư nhân tự ý thức của chính ông. Sẵn tiện thi sĩ giới thiệu luôn những tác phẩm của mình:

“Bẩm con ko dám man cửa Trời
Những áng văn con in cả rồi
Hai quyển Khối tình văn thuyết lí
Hai Khối tình con là văn chơi
Thần tiền, Giấc mộng văn tiểu thuyết
Đài gương, Lên sáu văn vị đời
Quyển Phụ nữ Tàu lối văn dịch
Tới quyển Lên tám nay là mười
Nhờ Trời văn con còn bán được
Chửa biết con in ra mấy mươi?”

Thi sĩ có vẻ rất đắc ý bởi ông ý thức được cái tài của mình. Khẳng định bản ngã cái tôi phóng túng, ý thức tài năng trị giá của mình giữa cuộc đời. Trước Tản Đà các nhà nho tài tử đều hết thảy thị tài nhưng chữ tài nhưng họ nói tới nhiều lúc mang một nội hàm khá rộng. Họ ko dám nói tới cái hay, cái “tuyệt” của thơ mình, hơn nữa, lại nói trước mặt Trời. Rõ ràng ý thức tư nhân ở thi sĩ đã tăng trưởng rất cao độ. Chính vì vậy nhưng tới Trời cũng phải tán thưởng:

“Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong một bài cùng vỗ tay.”

“Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt!
Văn trần được thế chắc có ít
Nhời văn chuốt đẹp như sao đổi ngôi!
Khí văn hung mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!

Chính vì tình yêu văn học, ông mới tự tin sáng tác, chuyển tải những tư tưởng tình cảm mới mẻ vào trang thơ. Hình như với ông, hầu Trời là khoảnh khắc đẹp nhất. Vì thế ông mới đem cái tài của mình để trình bày trước Trời cùng chư Tiên. Và lúc này quan niệm mới mẻ của ông được bộc lộ: sáng tác văn học là một nghề. Dù ko bộc lộ trực tiếp nhưng đằng sau các câu chữ ta vẫn thấy có một sự tưởng tượng khác trước về hoạt động ý thức đặc thù này. Với Tản Đà, văn học là một nghề kiếm sống mới, có người bán kẻ sắm, có thị trường tiêu thụ và bản thân thị trường đó cũng hết sức phức tạp, ko dễ chiều. Đặc trưng hơn dương như thi sĩ đã ý thức được sự cần thiết phải chuyên tâm với nghề văn, phải có vốn để theo đuổi nó:

“Nhờ Trời văn con còn bán được
Vốn liếng còn một bụng văn đó”

Thật ngang tang lúc thi sĩ muốn “gánh văn” lên Trời để bán.

“Chư tiên ước ao tranh nhau dặn:
Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”

Làm náo động thiên cung bằng những lời văn giàu thay lắm lối, nay thi sĩ còn muốn văn của ông được lan rộng cung đình để mọi người biết tới ông- một tài năng thực thụ của trần thế. Thế mới thấy được cái tôi mạnh mẽ tới nhường nào.

Qua bài thơ “Hầu Trời” ko ngừng lại ở đó, Tản Đà còn vạch ra thực tiễn phũ phàng: tài năng ko thống nhất với số phận. Ở cuộc đời thi sĩ thiếu tri kỉ, tri kỉ và bất hòa với cuộc đời:

“Văn học hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.”

Vì vậy ông khát khao lên Trời đọc thơ và tìm được người tri kỉ. Chỉ có Trời và chư tiên mới hiểu cái hay, cái đẹp trong thơ ông. Và lời Trời khen hắn là sự thẩm định có sức nặng nhất, ko thể không chấp nhận, nghi ngờ. Đúng là lối tự khẳng định rất ngông ngạo của thi sĩ.

Để Trời hiểu thơ, khen văn thơ tuyệt, Tản Đà liền đó “tâu trình” rõ ràng thân thế của mình, thích hợp hoàn toàn mạch chuyện:

“Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa Cầu
Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”.

Khác người xưa, Tản Đà đã tách tên, họ theo một kiểu công khai lý lịch rất hiện đại, lại còn nói rõ bản quán, châu lục, tên hành tinh. Qua đó ông trình bày niềm yêu nước tha thiết, đầy tự hào về bản thân, ý thức tư nhân tự trọng dân tộc thâm thúy. Một cái tên- tên thật chứ ko phải tự hay hiệu- nhưng được nói ra trịnh trọng tới vậy hẳn thi sĩ phải thấy có một trị giá ko thể phủ nhận gắn liền với nó. Cũng qua câu thơ, tác giả ngầm giới thiệu bút hiệu của mình. Tản Đà là con người khoe tài, thị tài và rất ngông cho nên trước chư tiên ko bao giờ kiềm chế nhưng một thể hiện hết tài hoa của mình.

Từ đầu tới cuối thi sĩ đều tự tin về tài năng của bản thân và một lần nữa Tản Đà lại khẳng định rất “ngông”, của kẻ vốn đã “ngông” lúc nhận mình là “trích tiên” bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Thi sĩ khẳng định tài năng và thân phận “khác thường của mình”.

Sự khác thường đặc thù này còn nằm ở việc thi sĩ được thừa nhận là một người thân Trời, được sai xuống hạ giới thực hiện một sứ mệnh cao cả”việc thiên lương của nhân loại”, “Trời rằng ko phải Trời đày, Trời định sai con một việc này, Là việc “thiên lương” của nhân loại, Cho con xuống thuật cùng đời hay”. Một lần nữa cái ngông đấy lại được thổi vào trong ý thơ. Nhưng cái ngông đấy chẳng qua là vì nó đối lập lại với cả xã hội bất công, vì ông phải đi làm mướn việc là tìm lại thiên lương vốn đang bị mai một của con người:

“Hai chữ thiên lương thằng Hiếu nhớ
Dám xin ko phụ Trời trông mong”

Thi sĩ ý thức về tư cách, một tư cách vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc về lợi danh. Nó đối lập với cái xã hội bất công vụ lợi, chạy theo đồng tiền và lợi danh thời bấy giờ.

Cuối cùng thi sĩ vẫn muốn khẳng định, tự khen thơ mình. Thơ thi nhân không những đẹp nhưng còn ẩn chứa những ý niệm cừ khôi về cuộc đời, về thiên lương, nhân sinh toàn cầu quan… Tóm lại là tất cả những gì nhân loại cần có để vươn tới cái chân- thiện- mỹ. Thoát ra khỏi quan niệm “thi dĩ ngôn chí”, Tản Đà thực sự thăng hoa trong toàn cầu nghệ thuật, bộc lộ xúc cảm cái tự do tư nhân mới mẻ của riêng mình.

Kế thừa nét ngông của truyền thống, song trong sự ngông của Tản Đà, người ta ko thấy cái ngông tới mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ. Và cũng ko thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối trình bày riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân. Cái ngông của Tàn Đà là cái ngông của một người chìm đắm trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự thay đổi, say để mộng, mộng để ngông với người đời. Nhưng có thể thấy rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản nhưng nếu như thiếu nó thì sẽ ko thể “ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng lạ mắt, nhưng ấn tượng đặc thù, ko thể nào phai trong lòng người đọc và ko lẫn với cái ngông của thi sĩ nào khác.

Bài thơ “Hầu Trời” đã kết tinh cái tôi của Tàn Đà. Nhưng ko chỉ trên phương diện nội dung, những nét lạ mắt và mới mẻ còn làm nên cái tôi trong nghệ thuật. Có nhẽ “Hầu Trời” có vẻ quá dài nhưng chính điều đó lại tạo cho bài thơ giàu yếu tố tự sự. Hơn thế, nguyên tắc tôn trọng dòng chảy tự nhiên,sống động của xúc cảm tư nhân, cá thể của thơ cho phép thi sĩ thoát khỏi những ràng buộc quá khe khắt về hình thức để tự do vẫy vùng trình bày tư tưởng tình cảm của mình. Thể thơ thất ngôn trường thiên được viết một cách phóng túng, tự do theo phong cách riêng của thi sĩ.

Tuy nhiên, “Hầu Trời” còn đáng chú ý với hiện tượng chia khổ, các khổ có độ dài không giống nhau tạo nên xúc cảm tự do và nét mới trong thơ văn. Cách trình bày của Tản Đà đã vượt ra khỏi quy pham nội dung và nghệ thuật, muốn phá cách để trình bày rõ cái tôi của ông.

Nét lạ mắt trong cái tôi của Tản Đà là sự dung hòa nhiều yếu tố không giống nhau. Tất cả tạo nên ở thi sĩ tính cách của một nhà Nho tài tử, đa tình, ngông và xê dịch. Cái cũ và mới, xưa và nay đan xen đưa Tàn Đà trở thành người nối kết hai thời đại thi ca, trở thành ngôi sao sáng với vẻ đẹp rất riêng trên bầu Trời văn học Việt Nam.

—————- HẾT BÀI 1 —————-

Sau lúc tham khảo bài viết cảm nhận về cái tôi lạ mắt của Tản Đà qua bài thơ Hầu Trời, các em có thể Xem thêm các bài văn mẫu hay liên quan tới bài Hầu trời trên https://chinphu.vn/ như Cảm tưởng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà, Soạn văn lớp 11 – Hầu trời, Cái tôi phóng túng, ngông nghênh và khát khao khẳng định chính mình giữa cuộc đời của Tản Đà qua bài thơ Hầu Trời, Cảm tưởng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà,…
 

2. Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời, mẫu số 2

Thi sĩ Xuân Diệu từng nói rằng: “Tản Đà là thi sĩ trước hết, mở đầu cho thơ Việt Nam hiện đại. Tản Đà là người thứ nhất đã có dũng cảm làm thi sĩ, đã làm thi sĩ một cách đường hoàng, bạo dạn, dám giữ một cái tôi”. Bằng khả năng của mình, Tản Đà mang tới một luồng sinh khí mới cho nền văn học Việt Nam. Thi sĩ trực tiếp trình bày cái tôi bản ngã của mình một cách hết sức lạ mắt và mới mẻ. Và “Hầu Trời” là một trong những bài thơ kết tinh những nét riêng lạ mắt đó.

Tản Đà đã mạnh dạn trình bày “cái tôi” tư nhân – một “cái tôi” ngông nghênh, phóng túng lạ kì! Đó cũng là cách trình bày ý thức về tài năng, trị giá thực thụ của bản thân và khát khao được khẳng định mình giữa cuộc đời. Có thể tóm tắt nội dung bài thơ như sau: Đêm khuya thanh vắng, thi sĩ buồn nên đun nước pha trà uống rồi cất tiếng ngâm văn.Tiếng ngâm sang sảng vọng tới trời cao. Hai tiên nữ xuống truyền lệnh Trời đòi thi sĩ lên hầu chuyện. Thi sĩ được đón tiếp trọng vọng, được mời đọc văn thơ. Trời và chư tiên hết lời khen ngợi, tán thưởng. Trời truyền hỏi tính danh, thi sĩ kể lể tình cảnh khốn khó của kẻ theo đuổi nghề văn dưới hạ giới. Trời xoa dịu, khuyên nhủ, thi sĩ cảm kích lạy tạ ra về. Cuối cùng là cuộc chia tay đầy xúc động của thi sĩ với Trời và chư tiên.

Cách vào đề của bài thơ khá thú vị, khiến người đọc cảm thu được tài hư cấu nghệ thuật lạ mắt và lối dẫn dắt rất có duyên của Tản Đà :

Đêm qua chẳng biết có hay ko,
Chẳng phải hốt hoảng, ko mơ mòng
Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể !
Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

Giấc mơ đêm qua nhưng thi sĩ là người trong cuộc cũng ko biết rõ là có hay ko, thực hay hư. Nếu là mơ thì ắt hẳn ko thể có thực; nhưng mọi cụ thể, hình ảnh vẫn xuất hiện rõ ràng, nên ko thể ko tin. Bởi vậy nhưng ở ba câu tiếp theo, thi sĩ cả quyết khẳng định như đang hội thoại với người nghe kể vậy. Ngữ điệu mạnh mẽ làm nổi trội yếu tố thật : Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể! Thật được lên tiên – sướng lạ lùng. Tất cả đã khơi gợi sự hiếu kì và cuốn hút người nghe nhập cục.

phan tich cai toi tan da trong bai tho hau troi

Phân tích Cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời để thấy được phong cách lạ mắt và sự tự ý thức về tài năng của tác giả

Ở những khổ thơ tiếp theo, thi sĩ đã kể về tình huống mình được Trời mời lên Thiên tào:

Nguyên lúc canh ba nằm một mình,
Vắt chân dưới bóng ngọn đèn xanh.
Nằm buồn, ngồi dậy đun nước uống,
Uống xong ấm nước, nằm ngâm văn.
Chơi văn ngâm chán lại chơi trăng
Ra sân cùng bóng đi tung tăng
Trên trời bỗng thấy hai cô xuống
Mồm cười tủm tỉm cùng nói rằng :

– “Trời nghe hạ giới người nào ngâm nga,
Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà !
Làm Trời mất ngủ, Trời đương mắng
Có hay lên đọc, Trời nghe qua”.
Ước mãi hiện thời mới gặp tiên !
Người tiên nghe tiếng lại như quen !
Văn học nào có hay cho lắm
Trời đã sai gọi thời phải lên.
Theo hai cô tiên lên đường mây
Vù vù ko cánh nhưng như bay.
Cửa son đỏ chói, oai rực rỡ
Thiên môn đế khuyết như là đây !
Vào trông thấy Trời, sụp xuống lạy
Trời sai tiên nữ dắt lôi dậy.
Ghế bành như tuyết vân như mây
Truyền cho văn sĩ ngồi chơi đấy.

Tình huống câu chuyện kể từ Tiếng ngâm vang cả sông Ngân Hà của thi sĩ dưới hạ giới làm cho Trời mất ngủ. Rõ ràng, cái duyên may được lên hầu Trời gắn liền với câu chuyện văn thơ, gắn liền với những phút cao hứng của thi sĩ. Hình như tác giả muốn nói rằng câu chuyện tuy ko có thật nhưng lại rất thật về tâm tư và nỗi niềm của mình. Chuyện bịa mười mươi nhưng xem ra rất tự nhiên, quyến rũ.

Lúc chư tiên đã tề tựu đông đủ, Trời liền: Truyền cho “văn sĩ đọc văn nghe!”. Được lời như cởi tấm lòng, thi sĩ vội vã kính cẩn: “Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc”. Thi sĩ đọc văn thơ của mình với tất cả sự phấn khích và thăng hoa của cảm hứng. Có nhẽ chưa bao giờ thi sĩ lại hứng thú tới tương tự. Ko để sót một khoảng trống nào của thời kì, thi sĩ đọc liền một mạch:

Đọc hết văn vần sang văn xuôi
Hết văn thuyết lí lại văn chơi
Đương cơn đắc ý đọc đã thích
Chè trời nhấp giọng càng tốt hơi.

Thi sĩ cao hứng và tự mãn vì có nhẽ đây là dịp hiếm hoi để Trời và các chư tiên thưởng thức thơ của thi sĩ sông Đà, núi Tản. Thính giả nghe thơ khích lệ thật nhiệt thành. Các chư tiên đồng thanh tán thưởng và hồn nhiên bộc lộ sự hâm mộ qua nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, tiếng nói… Điều đó làm cho cảm hứng trong lòng thi sĩ mỗi lúc một dâng cao:

Văn dài hơi tốt ran cung mây!
Trời nghe, Trời cũng lấy làm hay.
Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi
Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày
Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng
Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay.
Thi sĩ cao hứng tự nhận:
Văn đã giàu thay, lại lắm lối
Trời nghe Trời cũng bật buồn cười!

Cuộc đọc văn đã khép lại nhưng ấn tượng thâm thúy của nó khiến :

Chư tiên ước ao tranh nhau dặn :
“Anh gánh lên đây bán chợ trời !”

Trời nghe thi sĩ đọc văn đã ko tiếc lời khen tặng và những lời khen đó chứng tỏ Trời có khả năng thẩm văn, thẩm thơ tinh tế :

Trời lại phê cho: “Văn thật tuyệt
Văn trần được thế chắc có ít.
Nhời văn chuốt đẹp như sao đổi ngôi!
Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!
Êm như gió thoảng, tinh như sương!
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết.

Đây là đoạn thơ thú vị, lạ mắt nhất trong bài. Tác giả cố tình mượn lời Trời để ngợi ca thơ văn mình. Rõ ràng ý thức về “cái tôi” tư nhân của Tản Đà rất cao và thi sĩ ko hề vô lí lúc tự khen tới thế:Văn đã giàu thay lại lắm lối. Lời văn, khí văn được so sánh với những vẻ đẹp tuyệt vời của tự nhiên: như sao đổi ngôi, như mây chuyển, như gió thoảng, như sương, như mưa sa, như tuyết… Tưởng chừng tinh hoa của núi Tản sông Đà đã được thu cả vào hồn thơ thi sĩ. Đoạn thơ trên đã khai thác tối đa tác dụng của các giải pháp tu từ để trình bày đầy đủ mọi cung bậc trầm bổng, mạnh mẽ, tinh tế và linh diệu của xúc cảm đang thăng hoa.

Tình huống Hầu Trời bất thần quả đã cho Tản Đà một thời cơ tuyệt vời để phô bày tài năng văn học của mình trước người đời. Thật thú vị lúc tất cả nhân vật trong câu chuyện đều có tâm trạng hứng khởi tột độ, từ thi sĩ tới chư tiên và nhất là Trời – một ông Trời khá bình dân trong cung cách cư xử, nói năng. Điều đáng chú ý là thi sĩ chỉ cao hứng tột độ như thế lúc gặp được người hiểu và thông cảm với mình nhưng thôi. Chứ dưới hạ giới, thi sĩ dễ đâu tìm được người tri kỉ tri kỉ tương tự?! Lời ban khen của Trời hẳn là sự thẩm định, giám định xác thực nhất, ko người nào có thể nghi ngờ hay không chấp nhận. Đúng là một cách tự khẳng định rất ngông, rất Tản Đà, xưa nay chưa từng có!

Người đọc có cảm giác như thi sĩ vô cùng tự hào lúc khẳng định và ngợi ca tài năng văn học của mình. Chưa có tác giả nào dám mạnh dạn, công nhiên như thế. Có nhẽ một cuộc cách mệnh về thơ ca thực sự đã được kể từ chính Tản Đà – thi sĩ được coi là “cây cầu nối” giữa thơ cũ và thơ mới.

Thể theo yêu cầu của Trời, thi sĩ tự xưng tên tuổi và thân thế :

“Dạ bẩm lạy Trời con xin thưa
Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn
Quê ở Á châu về Địa Cầu
Sông Đà, núi Tản, nước Nam Việt”.
Trời ngợ một lúc lâu rồi sai Thiên tào rà soát lại:
Thiên tào tra sổ xét vừa xong
Đệ sổ trình lên Thượng đế trông
“Bẩm quả có tên Nguyễn Khắc Hiếu
Đày xuống hạ giới vì tội ngông”.
Lúc đấy, Trời mới phán rằng :
Trời rằng: “Ko phải là Trời đày,
Trời định sai con một việc này
Là việc “thiên lương” của nhân loại,
Cho con xuống thuật cùng đời hay”.

Được lời như cởi tấm lòng, Tản Đà trình diễn một mạch những nỗi niềm giận dữ của mình chất chứa lâu nay nay. Qua lời Trời, Tản Đà nói tới nhiệm vụ truyền bá thiên lương nhưng Trời ủy quyền, (giảng giải để nhân loại hiểu rằng lương thiện vốn là bản tính trời sinh). Điều đó chứng tỏ Tản Đà tuy lãng mạn, ngông nghênh nhưng ko hoàn toàn thoát li hiện thực nhưng vẫn có ý thức trách nhiệm với đời và khát khao được gánh vác việc đời. Đấy cũng là một cách tự khẳng định mình.

Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn, nhưng trong đoạn thơ dưới đây, thi sĩ lại sử dụng văn pháp tả thực cụ thể, tỉ mỉ tới từng cụ thể :

“Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo túng
Trần gian thước đất cũng ko có
Nhờ Trời năm xưa học ít nhiều
Vốn liếng còn một bụng văn đó.
Giấy người mực người thuê người in
Mướn shop người bán phường phố.
Văn học hạ giới rẻ như bèo
Kiếm được đồng lãi thực rất khó.
Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều
Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu.
Lo ăn lo mặc hết tháng ngày
Học ngày một kém tuổi ngày cao
Sức trong non yếu ngoài chen rấp
Một cây che chống bốn năm chiều
Trời lại sai con việc nặng quá
Biết làm có được nhưng dám theo”.

Tản Đà ko trực tiếp phát biểu quan niệm của mình về văn học và nghề văn, tuy vậy người đọc vẫn có thể tưởng tượng ra phần nào về nội dung của hoạt động ý thức đặc thù này. Đối với Tản Đà, văn học ko còn thuần tuý là một khái niệm ý thức cừ khôi nhưng đã trở thành một nghề kiếm sống như bao nghề khác, có người bán kẻ sắm và thị trường văn học cũng hết sức phức tạp. Vì thế nhưng nhà văn, thi sĩ ko dễ thành công.

Tản Đà đã vẽ ra một bức tranh hiện thực trần truồng, nghiệt ngã về nghề văn bằng tiếng nói đời thường. Đó là cảnh sống nghèo khổ :Trần gian thước đất cũng ko có, thi sĩ đành phải mưu sinh bằng công việc viết văn, làm thơ và xuất bản nhưng vốn liếng chẳng có gì ngoài ngòi bút : Giấy người mực người thuê người in, Mướn shop người bán phường phố. Người nghệ sĩ phải cam chịu cảnh: Văn học hạ giới rẻ như bèo, Kiếm được đồng lãi thực rất khó. Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều, Lo ăn lo mặc hết tháng ngày… Kể tới đây, xúc cảm của thi sĩ chợt ngậm ngùi, chua chát, khác hẳn với xúc cảm trữ tình bay bổng, đắc ý lúc đọc thơ cho Trời nghe.

Tất cả những điều đấy đã xuất hiện nhiều lần trong thơ văn Tản Đà, một thi sĩ tài hoa hơn người nhưng cả đời phải sống trong tình cảnh nghèo khổ, quẫn bách:

Hôm qua chửa có tiền nhà,
Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào.
Đi ra rồi lại đi vào,
Quanh quẩn chỉ tốn thuốc lào vì thơ.

Về cuối đời, ông từng phải chuyển qua nghề xem tướng số để kiếm ăn sống lay lắt qua ngày; rồi mở lớp dạy Hán văn, quốc văn nhưng ko có học trò. Cuối cùng, ông chết trong cảnh túng thiếu, khốn cùng rất thương tâm!

Giấc mơ Hầu Trời phải chăng là bộc lộ tha thiết, mãnh liệt của khát vọng được khẳng định tài năng của thi sĩ giữa chốn văn học hạ giới rẻ như bèo và thân phận của người thông minh bị xã hội rẻ rúng, khinh lúc. Vậy thì chỉ có thể lên thiên tào thi sĩ mới có thể tìm được tri kỉ tri kỉ, nhưng chuyện này chỉ có thể xảy trong giấc mộng nhưng thôi ! Hình như Trời cũng thấu hiểu nỗi niềm giận dữ của thi sĩ nên thật tình khuyên nhủ:

Rằng : “Con ko nói Trời đã biết
Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết
Thôi con cứ về nhưng làm ăn
Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết !”.

Cuộc chia tay giữa thi sĩ với Trời và chư tiên diễn ra quyến luyến và xúc động. Ngày đã rạng, tiếng gà xao xác gáy. Thi sĩ tỉnh mộng nhưng ấn tượng về cuộc hầu Trời vẫn còn sốt dẻo khiến thi sĩ bâng khuâng tiếc nuối và ước ao đêm nào cũng được lên thiên tào để hầu Trời.

Câu chuyện về cuộc đọc văn Hầu Trời và các chư tiên đã phản ánh khá rõ tâm hồn và tính cách của Tản Đà – một thi sĩ ngông và hay sầu mộng. Đó là một Tản Đà ý thức rất rõ về tài năng của mình, dám tử tế, công khai trình bày và khẳng định một cách tự hào, tự mãn về cái tài văn học hơn người đấy. Thi sĩ chẳng ngần ngại tự khen nhưng còn mượn những lời tán tụng của Trời cùng các chư tiên để đề cao thơ văn mình. Điều đó xuất phát từ niềm hãnh diện của một hồn thơ đã hấp thụ được linh khí của sông Đà, núi Tản. Trong một bài thơ tự vịnh, Tản Đà đã tự hào viết :

Vùng đất Sơn Tây nảy một ông,
Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng.
Núi Tản sông Đà người nào un đúc,
Bút thánh câu thần sớm vãi vung…

“Cái tôi” đó cũng thật ngông lúc dám tìm lên tận thiên tào để khẳng định tài năng của mình trước các chư tiên và Ngọc Hoàng thượng đế!

Thái độ ngông trong văn học chính là phản ứng của những nghệ sĩ tài hoa, có phong cách mạnh mẽ, ko chịu trói mình trong phạm vi chật hẹp có sẵn. Ngông cũng là thái độ của những người trí thức có tư cách cứng cỏi, quay lưng ngoảnh mặt trước một xã hội bất công, nhiễu nhương nhưng họ ko chấp nhận. Ngông trong văn học bao giờ cũng gắn liền với tài hoa và tư cách của người cầm bút. Tản Đà ko phải là một trường hợp cá biệt trong văn học Việt Nam nhưng trước ông đã có quan Thượng Nguyễn Công Trứ với: Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng, ngửng cao đầu thử thách: Trong triều người nào ngất ngưởng như ông? Và chửi thói thường xấu xa bằng một câu thề như dao chém đá:Kiếp sau xin chớ làm người, Làm cây thông đứng giữa trời nhưng reo… Tú Xương thì chửi thẳng vào mặt cái xã hội thối nát, điên đảo: Người đời xác rồi còn đốt pháo, Tình nhân trắng thế lại bôi vôi…và định: Phen này ông quyết đi buôn lọng, Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng.

Tuy nhiên, cái ngông của Tản Đà có những điểm đặc thù do chịu tác động của buổi giao thời dở Tây dở ta. Tản Đà phản ứng xã hội bằng thái độ ngông của một nghệ sĩ tài hoa tài tử. Thái độ ngông nghênh, tự mãn dường như được thi sĩ cố ý phóng đại trong bài Hầu Trời cốt để gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Thi sĩ giám định văn mình hay tới mức Trời và các chư tiên phải hết lời tán thưởng. Như thế tức là dưới hạ giới, ko người nào xứng đáng là kẻ tri kỉ tri kỉ với mình. Tản Đà còn tự nhận mình là một vị trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội ngông, nhưng lại được Trời trao cho sứ mệnh cao cả làtruyền bá thiên lương cho nhân loại.

Việc thi sĩ tô vẽ nên chuyện Hầu Trời hàm chứa một sự thử thách đối với cái nhìn đầy thành kiến về bậc thang trị giá của con người trong xã hội tôn thờ đồng tiền, coi nhẹ các trị giá ý thức. Cáingông của Tản Đà có nhiều điểm tương đồng với cái ngông của Nguyễn Công Trứ trình bày qua bài Bài ca ngất ngưởng: Ý thức rất cao về tài năng của bản thân, dám nói giọng bông lơn về những nhân vật như Trời, Tiên, Bụt; dám khẳng định “cái tôi tư nhân” vượt ra ngoài phạm vi của luân lí, đạo đức Nho giáo.

Điểm khác lạ giữa hai người là Nguyễn Công Trứ tuy ngất ngưởng tột bậc nhưng vẫn giữ : Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung, còn Tản Đà lại ko coi đó là chuyện hệ trọng. Hơn nữa, cái tài nhưng Tản Đà muốn khoe thuộc phạm trù văn học chứ ko phải là cái tài “kinh bang tế thế” như Nguyễn Công Trứ. Rõ ràng, thi sĩ Tản Đà đã rũ bỏ được khá nhiều gánh nặng trách nhiệm nhưng thông thường các nhà Nho từ trước tới nay vẫn tự đặt trên vai mình (Vũ trụ nội mạc phi phận sự) để sống thoải mái hơn với quyền tự do tư nhân mới mẻ nhưng thời đại đưa tới.

Bài thơ Hầu Trời được viết theo thể thất ngôn trường thiên khá tự do về số lượng câu; bố cục theo lối tự sự, diễn biến câu chuyện theo trình tự thời kì. Vì tác giả là nhân vật chính nên xúc cảm bộc lộ tự nhiên, thoải mái và cách kể chuyện rất hóm hỉnh, có duyên. Tiếng nói bình dân và giọng điệu hí hước rất ăn ý, hoà hợp, hỗ trợ cho nhau nhằm trình bày sinh động thái độ hào hứng của thi sĩ trước một nhân vật đặc thù đang say sưa nghe mình đọc văn, ngâm thơ. Quan hệ giữa thi sĩ với Trời và chư tiên xem ra cũng dân dã, thân tình như giữa những người đồng thanh tương khí.

Lối kể bịa nhưng như thật và nụ cười hóm hỉnh tạo nên nội dung trữ tình của bài thơ, giúp người đọc hiểu sâu hơn về con người thi sĩ. Những yếu tố nêu trên là một phần thế tất của bài thơ, hoàn toàn xứng hợp với câu chuyện Hầu Trời nhưng tác giả hư cấu. Tiếng nói trong bài thơ rất thân thiện với lời ăn tiếng nói hằng ngày. Từ dùng nôm na, bình dị, lại được đặt trong ngữ điệu nói nên càng ý vị : Văn dài hơi tốt ran cung mây! Văn đã giàu thay, lại lắm lối… Trời nghe Trời cũng bật buồn cười… Chư tiên ước ao tranh nhau dặn,… Đặc trưng, dưới ngòi bút của tác giả, Trời và chư tiên ko có một tí gì là đạo mạo. Họ bộc lộ xúc cảm theo một cung cách rất đỗi… bình dân : lè lưỡi, chau mày, lắng tai đứng, vỗ tay, bật buồn cười, tranh nhau dặn,… Cứ tưởng tượng ra hình ảnh của các đấng cừ khôi nhưng có những cử chỉ, điệu bộ ngộ nghĩnh, rất “người” như thế, người nào nhưng chẳng buồn cười và khâm phục cách kể chuyện tự nhiên, sinh động của thi sĩ Tản Đà. Các đoạn hội thoại và mô tả phản ứng tâm lí của từng nhân vật đan xen với nhau khiến người đọc có cảm tưởng mình đang được chứng kiến hoặc tham gia vào câu chuyện, cùng nếm trải, san sẻ những phút sung sướng lạ lùng và đắc ý tột bậc của người kể chuyện.

Hầu Trời là bài một thơ hay, lạ mắt, có nhiều nét mới mẻ về mặt thi pháp, tiêu biểu cho tính chất giao thời giữa cái mới và cái cũ trong nghệ thuật thơ Tản Đà. Qua bài thơ, người đọc có thể trông thấy đôi điều về xu thế tăng trưởng của thơ ca Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỉ XX.

————– HẾT ————–

Sau lúc đã tham khảo bài văn mẫu cảm nhận cái tôi lạ mắt của Tản Đà trong bài Hầu Trời, để tiếp tục ôn tập, rèn luyện kỹ năng viết bài văn cảm nhận, phân tích, các em cần lưu tâm tới danh sách các bài văn hay lớp 11 của https://chinphu.vn/ như Phân tích bài thơ Chạy giặc, Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Vội Vàng của Xuân Diệu, Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ Bài ca ngất ngưởng, Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát,…

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo Dục

[rule_{ruleNumber}]

#Cái #tôi #độc #đáo #của #Tản #Đà #trong #bài #Hầu #Trời

[rule_3_plain]

#Cái #tôi #độc #đáo #của #Tản #Đà #trong #bài #Hầu #Trời

[rule_1_plain]

#Cái #tôi #độc #đáo #của #Tản #Đà #trong #bài #Hầu #Trời

[rule_2_plain]

#Cái #tôi #độc #đáo #của #Tản #Đà #trong #bài #Hầu #Trời

[rule_2_plain]

#Cái #tôi #độc #đáo #của #Tản #Đà #trong #bài #Hầu #Trời

[rule_3_plain]

#Cái #tôi #độc #đáo #của #Tản #Đà #trong #bài #Hầu #Trời

[rule_1_plain]

Nguồn:chinphu.vn
Phân mục: Tin tức

#Cái #tôi #độc #đáo #của #Tản #Đà #trong #bài #Hầu #Trời

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button