Tin Tức

Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Có phải bạn đang tìm kiếm chủ đề về => Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy phải ko?Nếu đúng tương tự thì mời bạn xem nó ngay tại đây. Xem thêm các bài viết hay khác tại đây => Tin tức

Mẫu dàn ý và các bài văn cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy rực rỡ nhất được tuyển chọn sẽ được san sẻ ở bài viết này.

I. Dàn ý cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Mẫu dàn ý cụ thể:

Bạn đang xem: Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

2. Thân bài

An Dương Vương xây thành, chế nỏ, đánh giặc.

– Tiếp nối sự nghiệp vua Hùng, An Dương Vương rời đô từ Phong Châu về vùng đồng bằng Phong Khê để ổn định và tăng trưởng non sông.

⇒ Rời đô, xây thành là một quyết định sáng suốt của vị minh quân

– Nhưng việc xây thành gặp nhiều khó khăn đắp tới đâu lở tới đấy. An Dương Vương đã lập đàn trai giới, đón tiếp cụ già ở phương xa, ra cửa Đông đón Rùa Vàng

⇒ An Dương Vương luôn trằn trọc, suy nghĩ cho vận mệnh non sông, biết trọng hiền tài.

– An Dương Vương cho xây thành cao rộng, hình xoắn ốc

⇒ Tài năng quân sự, có tầm nhìn xa.

– Lúc Rùa thần từ biệt, nhà vua băn khoăn“Nếu có giặc ngoài thì lấy gì nhưng chống?”

⇒ Ý thức trách nhiệm và ý thức cảnh giác của nhà vua.

– Lấy vuốt rùa làm lẫy, nhờ Cao Lỗ chế nỏ đánh thắng mọi quân địch, giặc xâm lược. Hình ảnh chiếc nỏ thần mang nhiều ý nghĩa:

+ Là sức mạnh thần linh tặng thưởng cho nhà nước Âu Lạc.

+ Tượng trưng cho sức mạnh của nhà nước Âu Lạc, tranh đấu và thắng lợi mọi quân địch.

+ Là biểu tượng của ý thức kết đoàn và trình bày trình độ sản xuất của nhân dân thời kì đấy.

Bài học mất nước gắn với những sai trái của An Dương Vương và thảm kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

a. Những sai trái của An Dương Vương.

– Lơ là, mất cảnh giác: An Dương Vương đã gả con gái cho đàn ông quân địch và đồng ý cho Trọng Thủy ở rể.

– Chủ quan, khinh địch, ỷ vào sức mạnh của thành trì, vũ khí: Quân Triệu đà sang xâm lược nhà vua vẫn ung dung đánh cờ.

– Hành động của An Dương Vương ở cuối truyện tuốt gươm đâm chết Mị Châu quyết liệt, dứt khoát, trình bày sự thức tỉnh muộn màng, hi sinh tình cha con vì trách nhiệm với non sông.

+ Hình ảnh kì ảo An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc rẽ một đường xuống biển trình bày sự bất tử của nhà vua và sự trân trọng của nhân dân với nhà vua.

b. Thảm kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

* Nhân vật Mị Châu:

– Mị Châu hết lòng mến thương và tin tưởng chồng: Đưa Trọng Thủy đi thăm thú Âu lạc, cho chồng xem nỏ thần và dạy cách sử dụng, rắc lông ngỗng chỉ đường để Trọng Thủy đi tìm.

– Mị Châu nhẹ dạ cả tin mù quáng, bị Trọng Thủy lừa dối cướp nỏ thần chạy về nước, trước những lời nói kì lạ của Trọng Thủy ko mảy may nghi ngờ.

– Lời nguyền trước lúc chết của Mị Châu là lời thức tỉnh cũng là lời thanh minh cho tấm lòng nàng.

– Cái chết của Mị Châu là sự trừng trị nghiêm khắc của nhân dân đối với những sai trái nghiêm trọng của nàng.

– Cụ thể “Mị Châu chết ở bờ biển máu chảy xuống nước, sò ăn phải đều hóa thành hạt châu” cho thấy cái nhìn thông cảm nhân hậu của nhân dân ta, vì xét cho cùng Mị Châu cũng là một nạn nhân.

* Nhân vật Trọng Thủy:

– Là tên gián điệp nguy hiểm, trực tiếp gây ra thảm kịch của hai cha con An Dương Vương: Lợi dụng tình yêu và sự thơ ngây của Mị Châu để lừa dối, trộm cắp nỏ thần, dụ Mị Châu rắc lông ngỗng dẫn đường.

– Đau lòng, xót thương vợ, hối hận muộn màng. Trọng Thủy cũng là nạn nhân của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa: Sau lúc Mị Châu chết, ôm xác vợ khóc lóc, thương nhớ, lao đầu xuống giếng tự tử.

– Cụ thể ngọc trai – giếng nước mang ý nghĩa hóa giải sự hận thù, trình bày tấm lòng bao dung của nhân dân đối với những lội lầm đáng tiếc của hai nhân vật.

c. Bài học cho thảm kịch mất nước:

– Luôn nêu cao ý thức cảnh giác trước mưu mô quân địch.

– Luôn củng cố sức mạnh của dân tộc, ko ỷ vào thành cao hào sâu vũ thần sắc bén nhưng chủ quan, khinh địch, lơ là cảnh giác.

– Khắc phục đúng mực mối quan hệ giữa gia đình với quốc gia, dân tộc, tư nhân với tập thể.

3. Kết bài

– Nêu cảm nhận chung.

Xem thêm: Dàn ý phân tích truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

II. Các bài cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy tham khảo

1. Từ ý nghĩa nhân văn tới bài học cảnh giác

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

(Tố Hữu)

Truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu-Trọng Thủy là một trong những câu chuyện có sức lôi cuốn được lưu truyền trong dân gian về buổi đầu của lịch sử dân tộc-một câu chuyện vừa mang nét hiện thực vừa mang nét huyền thoại thời Âu Lạc. Hơn thế nữa, đây cũng là tác phẩm mang dấu ấn thảm kịch sớm nhất trong văn học dân tộc. Giếng Trọng Thủy ở Đông Anh (Hà Nội) tồn tại, kế bên bài học về việc cần đề cao cảnh giác với quân địch, tấm oan tình còn để lại những bài học mang trị giá nhân văn thâm thúy.

Mỵ Châu là con gái của Thục An Dương Vương. Người con gái trong trắng thơ ngây, tin tưởng tình yêu một cách thật tâm cuối cùng đã bị chính người chồng đưa vào bẫy, làm mất nước. Câu chuyện trong sách giáo khoa chỉ tập trung vào mối quan hệ Trọng Thủy-Mỵ Châu nhưng cũng đủ sức giúp ta trông thấy những thủ phạm và nạn nhân thực sự của bi tình sử này.

Trọng Thủy làm rể của An Dương Vương. Mọi nguyên nhân thảm kịch trước hết diễn ra từ An Dương Vương, đã để tình riêng lấn lướt tầm nhìn của một đấng minh quân. Nhất là, kẻ ở rể lại phục vụ cho dã tâm của Triệu Đà – lấy phương pháp nỏ thần để cướp nước. Sự mất cảnh giác đáng trách của An Dương Vương làm mất nước đành rằng, nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa thảm kịch là làm nên cảnh sinh ly tử biệt, tan vỡ tơ duyên của Mỵ Châu-Trọng Thủy.

Mặc dù truyền thuyết được ghi lại bởi người đời sau hết sức ngắn gọn, nhưng mấu chốt của thảm kịch đấy vẫn thật rõ ràng: mối quan hệ thông gia của hai nhà vốn dĩ đối địch tiềm tàng những bất trắc khó lường. Vậy nhưng An Dương Vương lại “vô tình” gả con gái của mình cho đàn ông quân địch. Theo mạch kể của truyền thuyết, ko có những lí giải về nguyên nhân sâu xa làm cho Mỵ Châu đã tiếp tay Trọng Thủy đánh cắp lẫy nỏ thần Kim Quy. Nhưng theo mạch truyện, Mỵ Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy tới với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự thơ ngây đấy của tư nhân nàng là điều có thể tha thứ, nhưng vì tình riêng nhưng để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội trạng khó dung tình. Đáng trách hơn, tình yêu đấy thiếu lí trí sáng suốt tới nỗi nàng ko trông thấy được những hàm ý trong lời nói Trọng Thủy lúc từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng ko đủ tỉnh táo để trông thấy trong lời chồng tiềm tàng hiểm họa binh đao: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như tới lúc hai nước thất hòa, bắc nam xa cách, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấu?”. Mị Châu mê muội tới mức ko thể nói ko thể nói một lời hỏi nguyên do chia phôi, lại chỉ chằm chằm nghĩ về sự đoàn viên lứa đôi. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh của quốc gia tương tự quả thực là đáng phê phán.

Đằng sau tơ duyên Mỵ Châu-Trọng Thủy là cả một mưu mô thôn tính nham hiểm của Triệu Đà. Kẻ thực hiện gian kế đấy lại là Trọng Thủy. Hắn ngay từ lúc đặt chân tới Loa Thành làm rể đã đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầu. Bỉ ổi hơn, hắn đã lợi dụng ngay người vợ thơ ngây để thực hiện gian kế mĩ mãn. Xét về thực chất, Trọng Thủy là một kẻ giảo hoạt và tham lam: lừa đảo vợ để lấy vuốt Rùa Vàng, vừa mưu mô cướp được nước vừa muốn cướp đoạt trái tim của Mỵ Châu. Từ thủ phạm hắn đã trở thành nạn nhân của chính mình. Ko thể nào có sự dung hòa giữa quyền lợi quốc gia với tình yêu lứa đôi lúc thù địch là cái mầm họa tiềm tàng trong các mối quan hệ vợ chồng.

An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân nhà vu among mỏi sự hòa hiếu giữa hai quốc gia, xong xuôi cảnh đao binh từ duyên tình con trẻ. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là chỗ hở để kẻ dã tâm là cha con Triệu Đà lợi dụng. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu thảm kịch lúc tuốt gươm trừng trị kẻ phản bội chính là con gái yêu của mình. Nhà vua đứng trên quyền lợi quốc gia nhưng gạt bỏ tình riêng hành động đấy được trân trọng bằng cách xử lí của dân gian: Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển. Mỵ Châu đã phải trả giá cho sự nông nổi của mình, nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để trông thấy thảm kịch của mình. Một người con gái thơ ngây trong trắng đáng yêu bị phản bội, cuối cùng nàng đã trông thấy gương mặt quân địch dù quá muộn màng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mỵ Châu lúc để nàng hóa thân thành ngọc thạch, máu hóa thành hạt châu nhưng cũng thật công bình lúc từ lập trường yêu nước trừng trị kẻ có tội. Mỵ Châu quả thực đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết ko còn chi kể lại trang sử mất nước nhưng chứa đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi-khi tình yêu phải đương đầu với mưu mô.

Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối lúc hắn chỉ còn mang xác Mỵ Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta ko thể cho hắn cướp đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mỵ Châu. Nhưng điều đáng nói hơn là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: “Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông, lấy nước giếng nhưng rửa, thì thấy trong sáng thêm”. Sự lừa dối nhơ nhớp của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh: chỉ có tình yêu thật tâm mới được đền đáp xứng đáng, ko thể nào tình yêu đồng hành với những suy tính thấp hèn, tham vọng cướp nước.

Truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu-Trọng Thủy muôn thuở vẫn còn trị giá từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác cũng như lời nhắc nhở về cách khắc phục các mối quan hệ riêng-chung, cá nhân-cộng đồng. Câu chuyện thảm kịch thấm thía đấy cũng là sự trình bày lập trường và tình cảm rõ ràng của nhân dân ta trước các vấn đề lịch sử và quan hệ con người.

Cành lá

2. Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có “Tấm Cám”, truyện ngụ ngôn có “Thầy tướng xem voi” thì truyền thuyết có “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. Đây có thể xem là câu chuyện thảm kịch trước tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi ko ít nước mắt cũng như sự căm thù của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế nhưng ta đã rút ra được bài học cho chính mình: đừng quá chủ quan, khinh thường địch nhưng chuốc lấy thất bại.

Truyện xưa kể rằng, vua Hùng có một người con gái đẹp tuyệt trần tên là Mị Châu. Năm đó, Thục vương sai sứ đi cầu hôn Mị Châu. Vua Hùng tính đồng ý nhưng tướng Lạc Hầu cản lại, bảo rằng Thục chỉ có mưu đồ chiếm nước ta nhưng thôi. Ko cầu hôn được vợ, Thục vương tức lắm. Di chúc để lại cho đời sau buộc phải cướp được nước Văn Lang của vua Hùng. Con cháu vua Thục mấy lần kéo binh sang đánh nhưng ko được. Vua Hùng thấy thế đâm ra tự mãn, chỉ lo vui chơi, ko lo việc binh biến, cuối cùng phải nhảy sông tự vẫn. Nước Văn Lang bị mất. Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán đã đứng lên dẹp loạn, tự xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc. Ông đã một lòng vì nước, rất thương dân. Triệu Đà đánh thua bèn rút về nước, cầu hòa và xin An Dương Vương gả con gái Mị Châu cho đàn ông Đà là Trọng Thủy. Mặc dù tướng Cao Lỗ đã hết sức can ngăn nhưng An Dương Vương vẫn mặc, lại còn bãi chức tướng Cao Lỗ. Và thảm kịch cũng xuất phát từ đó. Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”, trích truyện “Rùa Vàng” trong “Lĩnh Nam chích quái”, đã nói lên chiến công của An Dương Vương trong việc xây thành Cổ Loa và diễn tả nỗi bi thương của mối tình giữa Mị Châu và Trọng Thủy.

Trong buổi đầu dựng nước, An Dương Vương đã rất có công với dân tộc. Ông cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được no ấm hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn ko thành công, ông bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ông dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp sức của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ông, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có nhẽ ông đã vui tươi khôn xiết lúc thấy điều đó. Ông còn lo cho vận mệnh non sông lúc tâm tư mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho An Dương Vương một cái vuốt. Ông đã làm thành nỏ, cái nỏ đấy có thể bắn ra hàng nghìn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái hoà thịnh trị. Ta thấy rằng An Dương Vương quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của người đời.

Nhưng cũng chính vì thế cũng đã tạo nên tính tự mãn nơi ông. Lúc Đà sang cầu hôn, ông đã đồng ý gả con gái mình cho đàn ông Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có xích mích là sự dự đoán cho những mối hiểm họa về sau.

“Một vài kẻ Việt người Tàu
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương”

“Một vài kẻ Việt người Tàu” lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng An Dương Vương ko hề màng tới điều đó. Có nhẽ ông chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ ko phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ông ko biết được, quân địch dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ông nghĩ cho dân, nghĩ tới cái lợi trước mắt nhưng lại ko nghĩ tới những điều nguy hiểm sắp tới. Vì thế, ông đã đưa cả cơ đồ “đắm biển sâu”.

Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, An Dương Vương dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang xâm chiếm thì ông “vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười nhưng nói rằng: ‘Đà ko sợ nỏ thần sao?’” Ông đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ông mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ông chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ ko còn cách đối kháng nào khác. Lúc ra tới biển Đông, ông còn ko trông thấy được đâu là giặc, ông chỉ ngửa mặt kêu “trời” nhưng ko biết phải làm gì. Tới lúc thần Rùa Vàng hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” thì ông đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, ko do dự đấy đã chứng minh ông là một vị minh quân. Ông đặt việc nước lên trên việc nhà, ko để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khuyết thiếu cho ông. Lúc ông ko xây được thành, thần hiện lên giúp sức, lúc ông lo cho vận mệnh non sông, thần cũng hết sức chỉ bào ông và lúc này, lúc nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ông. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Cụ thể “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” đã chứng minh điều đó. Đại dương đã mở rộng tấm lòng đón ông về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp?

Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một thắng lợi vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của An Dương Vương mang tính hiện thực thâm thúy. Và thảm kịch nước mất nhà tan đấy xuất phát từ mối tơ duyên của Mị Châu và Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất thơ ngây, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế nhưng nàng lại “vô tư” tới mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu tối tới mức nhầm lẫn giữa “tình nữ nhi” và “việc quân vương”. Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ “tòng” thời đấy. Nhưng ko chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Lúc đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước lúc đi, chàng nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng ko thể quên lãng, nghĩa mẹ cha ko thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như tới lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam xa cách, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Câu nói đầy hàm ý của Trọng Thủy thế nhưng Mị Châu ko trông thấy. Nàng yêu Trọng Thủy tới mức còn ko thèm đặt ra câu hỏi vì sao hai nước phải thất hòa, vì sao Bắc Nam phải xa cách trong lúc ta đã là “người một nhà”. Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong tới ngày sum họp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh li biệt thì đớn đau khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi tới đâu sẽ rứt lông nhưng rắc ở ngã ba đường để làm dấu, tương tự sẽ có thể cứu được nhau”. Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người bà xã chồng tha thiết. Nhưng nàng ko biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà thắng lợi vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết mổ cha mình.

“Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn
Những chiếc lông ko tự biết giấu mình”

Lúc bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là y phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã ko còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước lúc bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ trở thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu nhưng bị người lừa dối thì chết đi sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng đã trông thấy được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng lâu nay nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân ko trọn vẹn, xác trở thành ngọc thạch, máu trở thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự thông cảm của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã “vô tình” đưa nước Việt vào một nghìn năm nô lệ.

Ba nhân vật, ba số phận, ba vai diễn đều do Triệu Đà đứng phía sau làm đạo diễn. Nhưng có nhẽ, vai diễn của Trọng Thủy là khó khăn nhất. Chàng phải hóa thân thành nhiều vai, mỗi vai một tính cách không giống nhau, yêu cầu ở con người ta phải có tài năng diễn xuất kiệt xuất. Trước mặt An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy đeo chiếc mặt nạ là một người con rể, một người chồng hết sức mến thương vợ. Nhưng chiếc mặt nạ còn lại Trọng Thủy giấu vào trong bóng tối. Chàng diễn hay tới mức ko người nào có thể trông thấy. Lời chàng nói với Mị Châu lúc từ biệt, những hành động âu yếm của chàng đối với Mị Châu cho ta thấy chàng là một người đàn ông mẫu mực. Thế nhưng tất cả đã hoàn toàn sụp đổ lúc ta trông thấy được mưu mô của chàng. Cuối truyện, Trọng Thủy cũng ko thể nào sống yên cùng với những vinh hoa phú quý nhưng mình chiếm được. Tâm trạng chàng rất dằn vặt. Có nhẽ trước lúc thực hiện mưu đồ đấy, chàng cũng đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Nhưng suy cho cùng chàng cũng là thân phận người Tàu, là đàn ông Triệu Đà và là nạn nhân của trận đánh tranh phi nghĩa. Chàng đã hết lòng trung thành với cha. Nhưng cụ thể chàng nhảy xuống giếng vì tưởng nhớ Mị Châu đã cho ta một cách nhìn khác về nhân vật này. Chàng đã gài một cái bẫy giúp cha mình, một cú lừa ngoạn mục để rồi chàng cũng chính là nạn nhân của cái bẫy đấy. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì thấy ngọc sáng thêm. Phải chăng Mị Châu đã tha thứ cho Trọng Thủy? Nhưng tin chắc rằng nàng sẽ ko ngu tối nữa, vì lời nguyền của nàng là sẽ “rửa sạch mối nhục thù” chứ ko cầu mong gì thêm. Ngọc sáng đã minh chứng cho tình yêu, lòng thủy chung và sự trong sáng, vô tội của nàng.

Ko như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như An Dương Vương “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Và trong tình yêu phải xoành xoạch sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong “Tâm tình” đã nói:

“Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống
Cái đầu cụt gợi nhớ dòng tính nóng
Hai nghìn năm dưới đá vẫn tuôn trào
Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu
Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
Nhưng nhắc sao được hai nghìn năm trước
Nên em ơi ta đành tự nhắc mình”.

Cành lá

3. Truyền thuyết nhắc nhở chúng ta đừng có mơ hồ

An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một truyền thuyết bi tráng nhất. Ý nghĩa lịch sử của nó xoành xoạch mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, non sông Việt Nam chúng ta trong bất kỳ thời đại lịch sử  nào. Bài học về cảnh giác với quân địch trong sự nghiệp giữ nước cũng suy ngẫm, cũng thấy đau xót và thấm thía.

Xây thành ốc, chế nỏ thần là kì công của An Dương Vương. Tướng Cao Lỗ với kì công làm nỏ, lấy vuốt rùa thần làm lẫy ko bao giờ phai mờ trong tâm hồn nhân dân và lịch sử của dân tộc. Thần Kim Quy là nhân vật huyền thoại xuất hiện đầu – cuối truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy đã tô đậm yếu tố thần kì, huyền diệu trong kì tích yểm trừ yêu quái để xây dựng Loa Thành, để chế nỏ thần Kim Quy, và việc vạch mặt chỉ tên: Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó.

Nỏ thần Kim Quy thật vô cùng lợi hại. Lúc Triệu Đà từ phương Bắc đem quân sang cướp phá nước Âu Lạc, An Dương Vương đã lấy nỏ thần ra bắn chết hàng vạn tên giặc, quân Triệu Đà thua to, chạy về Trâu Sơn, ko dám đối chiến, xin giảng hòa.

Có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần linh nghiệm, nhà vua còn lo gì nữa? Việc An Dương Vương nhận lời cầu hôn của họ Triệu Phương Bắc – quân địch mới năm nào từng mang quân sang xâm lược nước mình, thảm sát nhân dân mình, việc An Dương Vương còn cho Trọng Thủy – đàn ông Triệu Đà ở rể, hành động đấy cho thấy nhà vua Âu Lạc đã mất cảnh giác cao độ, đúng là nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà.

Nỏ thần là bí mật quốc gia, nhưng làm sao nhưng An Dương Vương và Triều đình nước Âu Lạc lại để cho Mị Châu biết tới, để người con gái lá ngọc cành vàng đem cho Trọng Thủy xem trộm. Thậm chí tới lức kẻ gian tế ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt Rùa Vàng nhưng nhà vua cũng chẳng hay biết gì. Và lúc Trọng Thủy trộm cắp được lẫy nỏ thần đem về nước, Triệu Đà lại đem quân sang xâm lược Âu Lạc, cảnh non sông lâm nguy, nhưng An Dương Vương vẫn điềm nhiên đánh cờ, tự mãn cười lên giọng: Đà ko sợ nỏ thần sao?. Còn gì đáng trách hơn là lúc cha con Triệu Đà mang quân sang, tiến sát kinh thần Cổ Loa thì vua Âu Lạc mới cầm lấy nỏ thần bắn, và lúc thấy nỏ thần ko linh nghiệm nữa bèn bỏ chạy. Bị giặc là chàng rể truy kích tới đường cùng. An Dương Vương mới kêu to: Trời hại ta, thần Kim Quy ở đâu, mau lại cứu. Đâu phải Trời hại. Cảnh thành vỡ nước tan, núi xương sông máu dưới vó ngựa xâm lược của cha con Triệu Đà, thảm kịch đấy là do An Dương Vương mất cảnh giác và chủ quan khinh địch.

Sau lúc nghe Rùa Vàng hiện lên thét lớn: Kẻ ngồi sau lưng là giặc đó thì nhà vua mới tỉnh ngộ, hiểu ra cơ sự và chỉ còn biết tuốt kiểm chém Mị Châu. Cái chết của nhà vua đâm đầu xuống biển, ôm theo mối thù hận, đau buồn thiên thu đã được người kể chuyện bao phủ một lớp sương mờ huyền thoại: Vua cầm sừng tê bảy tấc. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Nhà vua phải là người chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử. Nhưng qua truyền thuyết, nhân dân ta đã dành cho An Dương Vương một tình thương, vừa thẩm định công lao dựng nước xây Loa Thanh, chế nỏ thần, vừa thông cảm cho tẩm lòng thành thực của người đứng đầu nước Âu Lạc trong việc bang giao với phương Bắc, ko muôn chiến tranh. Ý định thật tâm đấy đã bị quân thù tham lam, nham hiểm lợi dụng gây nên thảm họa cho non sông, thảm kịch cho gia đình. Cái chết của An Dương Vương là một hình phạt. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển là tình thương.

Với Rùa Vàng thì Mị Châu là giặc, một thứ giặc đang ngồi sau lưng nhà vua. Với An Dương Vương thì Mị Châu là kẻ trọng tội, gây nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu  nên phải chém. Vì thơ ngây và quá tin yêu chồng, nhưng nàng đã cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, và để hắn trộm cắp lẫy nỏ thần. Vì thơ ngây và quá tin yêu Trọng Thủy nhưng Mị Châu đã rắc lông ngỗng trên đường chạy giặc, để cha con Triệu Đà thúc quân truy kích An Dương Vương tới tận bờ biển phương nam đất Dạ Sơn, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu. Lời khấn của Mị Châu trước lúc bị vua cha chém chết cho thấy nàng đã bị lừa dối. Đó cũng là mối hận nghìn đời: Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ trở thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu nhưng bị người lừa dối thì chết đi sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Mị Châu chết đi đã hóa thành ngọc. Máu nàng được các loài trai dưới biển hút, nên mới có ngọc trai. Sự thân hóa kiếp đấy là một minh chứng nàng là cô gái một lòng trung hiếu nhưng bị lừa dối. Dù thơ ngây, dù vô tình, Mị Châu là kẻ có tội đối với non sông Âu Lạc và đối với vương phụ. Dù có tội, nhưng nàng thật đáng thương. Mị Châu trở thành ngọc trai nghìn năm sáng mãi là cách nhìn nhận đầy tình nhân, nhân hậu đôi với nàng. Sự phán xét của lịch sử và của nhân dân thật nghiêm khắc và công bình.

Hơn hai nghìn năm đã trôi qua, người đọc truyền thuyết vẫn cảm thây sợ hãi và kinh tởm đối với Trọng Thủy. Vị phò mã của An Dương Vương, người chồng yêu quý của Mị Châu là một tên gián điệp, một tên lừa đảo, một tên trộm cắp. Hắn còn là một kẻ đầy tham vọng, muốn biến Âu Lạc thành quận huyện của phương Bắc. Việc Trọng Thủy lao đầu xuống giếng là một hành động hối lỗi, sám hối, hay đó là sự trừng trị nghiêm khắc, một sự báo thù nhãn tiền.

Tình tiết ngọc trai đem rữa nước giếng Trọng Thủy nơi cổ Loa sẽ sáng thêm đã làm sáng tỏ tâm lòng trung hiếu của người con gái Âu Lạc đã bị lừa dối.

Nhiều thi sĩ đã viết về truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy. Thi sĩ Tản Đà đã để lại vần thơ ngậm ngùi:

Hạt châu giếng nước nghìn năm khói nhang

Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy nhắc nhở chúng ta đừng có mơ hồ.

Cành lá

Tham khảo thêm: Cảm nhận về nhân vật An Dương Vương

Trên đây là những nội dung tham khảo được https://chinphu.vn/ biên soạn. Chúc bạn hoàn thành tốt bài làm văn cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy của mình.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục


Xem thêm chi tiết: Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy

Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Hình Ảnh về: Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Video về: Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Wiki về Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy -

Mẫu dàn ý và các bài văn cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy rực rỡ nhất được tuyển chọn sẽ được san sẻ ở bài viết này.

I. Dàn ý cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

Mẫu dàn ý cụ thể:

Bạn đang xem: Cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

1. Mở bài

– Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

2. Thân bài

An Dương Vương xây thành, chế nỏ, đánh giặc.

– Tiếp nối sự nghiệp vua Hùng, An Dương Vương rời đô từ Phong Châu về vùng đồng bằng Phong Khê để ổn định và tăng trưởng non sông.

⇒ Rời đô, xây thành là một quyết định sáng suốt của vị minh quân

– Nhưng việc xây thành gặp nhiều khó khăn đắp tới đâu lở tới đấy. An Dương Vương đã lập đàn trai giới, đón tiếp cụ già ở phương xa, ra cửa Đông đón Rùa Vàng

⇒ An Dương Vương luôn trằn trọc, suy nghĩ cho vận mệnh non sông, biết trọng hiền tài.

– An Dương Vương cho xây thành cao rộng, hình xoắn ốc

⇒ Tài năng quân sự, có tầm nhìn xa.

– Lúc Rùa thần từ biệt, nhà vua băn khoăn“Nếu có giặc ngoài thì lấy gì nhưng chống?”

⇒ Ý thức trách nhiệm và ý thức cảnh giác của nhà vua.

– Lấy vuốt rùa làm lẫy, nhờ Cao Lỗ chế nỏ đánh thắng mọi quân địch, giặc xâm lược. Hình ảnh chiếc nỏ thần mang nhiều ý nghĩa:

+ Là sức mạnh thần linh tặng thưởng cho nhà nước Âu Lạc.

+ Tượng trưng cho sức mạnh của nhà nước Âu Lạc, tranh đấu và thắng lợi mọi quân địch.

+ Là biểu tượng của ý thức kết đoàn và trình bày trình độ sản xuất của nhân dân thời kì đấy.

Bài học mất nước gắn với những sai trái của An Dương Vương và thảm kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

a. Những sai trái của An Dương Vương.

– Lơ là, mất cảnh giác: An Dương Vương đã gả con gái cho đàn ông quân địch và đồng ý cho Trọng Thủy ở rể.

– Chủ quan, khinh địch, ỷ vào sức mạnh của thành trì, vũ khí: Quân Triệu đà sang xâm lược nhà vua vẫn ung dung đánh cờ.

– Hành động của An Dương Vương ở cuối truyện tuốt gươm đâm chết Mị Châu quyết liệt, dứt khoát, trình bày sự thức tỉnh muộn màng, hi sinh tình cha con vì trách nhiệm với non sông.

+ Hình ảnh kì ảo An Dương Vương cầm sừng tê bảy tấc rẽ một đường xuống biển trình bày sự bất tử của nhà vua và sự trân trọng của nhân dân với nhà vua.

b. Thảm kịch tình yêu của Mị Châu – Trọng Thủy

* Nhân vật Mị Châu:

– Mị Châu hết lòng mến thương và tin tưởng chồng: Đưa Trọng Thủy đi thăm thú Âu lạc, cho chồng xem nỏ thần và dạy cách sử dụng, rắc lông ngỗng chỉ đường để Trọng Thủy đi tìm.

– Mị Châu nhẹ dạ cả tin mù quáng, bị Trọng Thủy lừa dối cướp nỏ thần chạy về nước, trước những lời nói kì lạ của Trọng Thủy ko mảy may nghi ngờ.

– Lời nguyền trước lúc chết của Mị Châu là lời thức tỉnh cũng là lời thanh minh cho tấm lòng nàng.

– Cái chết của Mị Châu là sự trừng trị nghiêm khắc của nhân dân đối với những sai trái nghiêm trọng của nàng.

– Cụ thể “Mị Châu chết ở bờ biển máu chảy xuống nước, sò ăn phải đều hóa thành hạt châu” cho thấy cái nhìn thông cảm nhân hậu của nhân dân ta, vì xét cho cùng Mị Châu cũng là một nạn nhân.

* Nhân vật Trọng Thủy:

– Là tên gián điệp nguy hiểm, trực tiếp gây ra thảm kịch của hai cha con An Dương Vương: Lợi dụng tình yêu và sự thơ ngây của Mị Châu để lừa dối, trộm cắp nỏ thần, dụ Mị Châu rắc lông ngỗng dẫn đường.

– Đau lòng, xót thương vợ, hối hận muộn màng. Trọng Thủy cũng là nạn nhân của của chiến tranh xâm lược phi nghĩa: Sau lúc Mị Châu chết, ôm xác vợ khóc lóc, thương nhớ, lao đầu xuống giếng tự tử.

– Cụ thể ngọc trai – giếng nước mang ý nghĩa hóa giải sự hận thù, trình bày tấm lòng bao dung của nhân dân đối với những lội lầm đáng tiếc của hai nhân vật.

c. Bài học cho thảm kịch mất nước:

– Luôn nêu cao ý thức cảnh giác trước mưu mô quân địch.

– Luôn củng cố sức mạnh của dân tộc, ko ỷ vào thành cao hào sâu vũ thần sắc bén nhưng chủ quan, khinh địch, lơ là cảnh giác.

– Khắc phục đúng mực mối quan hệ giữa gia đình với quốc gia, dân tộc, tư nhân với tập thể.

3. Kết bài

– Nêu cảm nhận chung.

Xem thêm: Dàn ý phân tích truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy

II. Các bài cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy tham khảo

1. Từ ý nghĩa nhân văn tới bài học cảnh giác

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

(Tố Hữu)

Truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mỵ Châu-Trọng Thủy là một trong những câu chuyện có sức lôi cuốn được lưu truyền trong dân gian về buổi đầu của lịch sử dân tộc-một câu chuyện vừa mang nét hiện thực vừa mang nét huyền thoại thời Âu Lạc. Hơn thế nữa, đây cũng là tác phẩm mang dấu ấn thảm kịch sớm nhất trong văn học dân tộc. Giếng Trọng Thủy ở Đông Anh (Hà Nội) tồn tại, kế bên bài học về việc cần đề cao cảnh giác với quân địch, tấm oan tình còn để lại những bài học mang trị giá nhân văn thâm thúy.

Mỵ Châu là con gái của Thục An Dương Vương. Người con gái trong trắng thơ ngây, tin tưởng tình yêu một cách thật tâm cuối cùng đã bị chính người chồng đưa vào bẫy, làm mất nước. Câu chuyện trong sách giáo khoa chỉ tập trung vào mối quan hệ Trọng Thủy-Mỵ Châu nhưng cũng đủ sức giúp ta trông thấy những thủ phạm và nạn nhân thực sự của bi tình sử này.

Trọng Thủy làm rể của An Dương Vương. Mọi nguyên nhân thảm kịch trước hết diễn ra từ An Dương Vương, đã để tình riêng lấn lướt tầm nhìn của một đấng minh quân. Nhất là, kẻ ở rể lại phục vụ cho dã tâm của Triệu Đà – lấy phương pháp nỏ thần để cướp nước. Sự mất cảnh giác đáng trách của An Dương Vương làm mất nước đành rằng, nhưng hậu quả của nó mang ý nghĩa thảm kịch là làm nên cảnh sinh ly tử biệt, tan vỡ tơ duyên của Mỵ Châu-Trọng Thủy.

Mặc dù truyền thuyết được ghi lại bởi người đời sau hết sức ngắn gọn, nhưng mấu chốt của thảm kịch đấy vẫn thật rõ ràng: mối quan hệ thông gia của hai nhà vốn dĩ đối địch tiềm tàng những bất trắc khó lường. Vậy nhưng An Dương Vương lại “vô tình” gả con gái của mình cho đàn ông quân địch. Theo mạch kể của truyền thuyết, ko có những lí giải về nguyên nhân sâu xa làm cho Mỵ Châu đã tiếp tay Trọng Thủy đánh cắp lẫy nỏ thần Kim Quy. Nhưng theo mạch truyện, Mỵ Châu rõ ràng đã tin Trọng Thủy tới với nàng bằng cả tấm chân tình. Sự thơ ngây đấy của tư nhân nàng là điều có thể tha thứ, nhưng vì tình riêng nhưng để lộ bí mật quốc gia thật sự là một tội trạng khó dung tình. Đáng trách hơn, tình yêu đấy thiếu lí trí sáng suốt tới nỗi nàng ko trông thấy được những hàm ý trong lời nói Trọng Thủy lúc từ biệt để cảnh báo với vua cha. Nàng ko đủ tỉnh táo để trông thấy trong lời chồng tiềm tàng hiểm họa binh đao: “Ta nay trở về thăm cha, nếu như tới lúc hai nước thất hòa, bắc nam xa cách, ta lại tìm nàng lấy gì làm dấu?”. Mị Châu mê muội tới mức ko thể nói ko thể nói một lời hỏi nguyên do chia phôi, lại chỉ chằm chằm nghĩ về sự đoàn viên lứa đôi. Đặt tình riêng lên trên vận mệnh của quốc gia tương tự quả thực là đáng phê phán.

Đằng sau tơ duyên Mỵ Châu-Trọng Thủy là cả một mưu mô thôn tính nham hiểm của Triệu Đà. Kẻ thực hiện gian kế đấy lại là Trọng Thủy. Hắn ngay từ lúc đặt chân tới Loa Thành làm rể đã đặt nhiệm vụ gián điệp lên hàng đầu. Bỉ ổi hơn, hắn đã lợi dụng ngay người vợ thơ ngây để thực hiện gian kế mĩ mãn. Xét về thực chất, Trọng Thủy là một kẻ giảo hoạt và tham lam: lừa đảo vợ để lấy vuốt Rùa Vàng, vừa mưu mô cướp được nước vừa muốn cướp đoạt trái tim của Mỵ Châu. Từ thủ phạm hắn đã trở thành nạn nhân của chính mình. Ko thể nào có sự dung hòa giữa quyền lợi quốc gia với tình yêu lứa đôi lúc thù địch là cái mầm họa tiềm tàng trong các mối quan hệ vợ chồng.

An Dương Vương mất nước từ sự thiếu cảnh giác, khinh địch của mình. Bản thân nhà vu among mỏi sự hòa hiếu giữa hai quốc gia, xong xuôi cảnh đao binh từ duyên tình con trẻ. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là chỗ hở để kẻ dã tâm là cha con Triệu Đà lợi dụng. Bản thân An Dương Vương cũng phải gánh chịu thảm kịch lúc tuốt gươm trừng trị kẻ phản bội chính là con gái yêu của mình. Nhà vua đứng trên quyền lợi quốc gia nhưng gạt bỏ tình riêng hành động đấy được trân trọng bằng cách xử lí của dân gian: Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua xuống biển. Mỵ Châu đã phải trả giá cho sự nông nổi của mình, nhưng nàng cũng kịp thức tỉnh để trông thấy thảm kịch của mình. Một người con gái thơ ngây trong trắng đáng yêu bị phản bội, cuối cùng nàng đã trông thấy gương mặt quân địch dù quá muộn màng. Cái nhìn nhân hậu của nhân dân ta đã dành cho Mỵ Châu lúc để nàng hóa thân thành ngọc thạch, máu hóa thành hạt châu nhưng cũng thật công bình lúc từ lập trường yêu nước trừng trị kẻ có tội. Mỵ Châu quả thực đáng trách nhưng cũng thật đáng thương. Truyền thuyết ko còn chi kể lại trang sử mất nước nhưng chứa đựng cái nhìn thương cảm cho lứa đôi-khi tình yêu phải đương đầu với mưu mô.

Trọng Thủy đã phải trả giá cho sự lừa dối lúc hắn chỉ còn mang xác Mỵ Châu về chôn cất. Với kẻ cướp nước, nhân dân ta ko thể cho hắn cướp đoạt và tiếp tục lừa phỉnh Mỵ Châu. Nhưng điều đáng nói hơn là cái chết lao đầu xuống giếng của Trọng Thủy và kết thúc câu chuyện: “Người đời sau mò được ngọc trai ở biển Đông, lấy nước giếng nhưng rửa, thì thấy trong sáng thêm”. Sự lừa dối nhơ nhớp của Trọng Thủy là lời cảnh tỉnh: chỉ có tình yêu thật tâm mới được đền đáp xứng đáng, ko thể nào tình yêu đồng hành với những suy tính thấp hèn, tham vọng cướp nước.

Truyền thuyết An Dương Vương và Mỵ Châu-Trọng Thủy muôn thuở vẫn còn trị giá từ ý nghĩa nhân văn, từ bài học cảnh giác cũng như lời nhắc nhở về cách khắc phục các mối quan hệ riêng-chung, cá nhân-cộng đồng. Câu chuyện thảm kịch thấm thía đấy cũng là sự trình bày lập trường và tình cảm rõ ràng của nhân dân ta trước các vấn đề lịch sử và quan hệ con người.

Cành lá

2. Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, nếu cổ tích có “Tấm Cám”, truyện ngụ ngôn có “Thầy tướng xem voi” thì truyền thuyết có “An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy”. Đây có thể xem là câu chuyện thảm kịch trước tiên trong văn học dân tộc, nó đã lấy đi ko ít nước mắt cũng như sự căm thù của người đọc. Tuy nhiên, cũng chính vì thế nhưng ta đã rút ra được bài học cho chính mình: đừng quá chủ quan, khinh thường địch nhưng chuốc lấy thất bại.

Truyện xưa kể rằng, vua Hùng có một người con gái đẹp tuyệt trần tên là Mị Châu. Năm đó, Thục vương sai sứ đi cầu hôn Mị Châu. Vua Hùng tính đồng ý nhưng tướng Lạc Hầu cản lại, bảo rằng Thục chỉ có mưu đồ chiếm nước ta nhưng thôi. Ko cầu hôn được vợ, Thục vương tức lắm. Di chúc để lại cho đời sau buộc phải cướp được nước Văn Lang của vua Hùng. Con cháu vua Thục mấy lần kéo binh sang đánh nhưng ko được. Vua Hùng thấy thế đâm ra tự mãn, chỉ lo vui chơi, ko lo việc binh biến, cuối cùng phải nhảy sông tự vẫn. Nước Văn Lang bị mất. Năm Giáp Thìn (257 trước công nguyên), Thục Phán đã đứng lên dẹp loạn, tự xưng là An Dương Vương, lập ra nước Âu Lạc. Ông đã một lòng vì nước, rất thương dân. Triệu Đà đánh thua bèn rút về nước, cầu hòa và xin An Dương Vương gả con gái Mị Châu cho đàn ông Đà là Trọng Thủy. Mặc dù tướng Cao Lỗ đã hết sức can ngăn nhưng An Dương Vương vẫn mặc, lại còn bãi chức tướng Cao Lỗ. Và thảm kịch cũng xuất phát từ đó. Truyền thuyết “An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy”, trích truyện “Rùa Vàng” trong “Lĩnh Nam chích quái”, đã nói lên chiến công của An Dương Vương trong việc xây thành Cổ Loa và diễn tả nỗi bi thương của mối tình giữa Mị Châu và Trọng Thủy.

Trong buổi đầu dựng nước, An Dương Vương đã rất có công với dân tộc. Ông cho xây thành Cổ Loa với hi vọng nhân dân sẽ được no ấm hạnh phúc. Việc xây thành mãi vẫn ko thành công, ông bèn cầu trời phật, giữ cho tâm mình trong sạch. Điều đó đủ để thấy tâm huyết của ông dành cho dân tộc là như thế nào. Nhờ sự giúp sức của sứ Thanh Giang cùng với tấm lòng yêu nước thương dân của ông, chỉ nửa tháng sau, thành đã được xây xong. Có nhẽ ông đã vui tươi khôn xiết lúc thấy điều đó. Ông còn lo cho vận mệnh non sông lúc tâm tư mối băn khoăn lại bị Đà xâm chiếm với thần Kim Quy. Thần đã cho An Dương Vương một cái vuốt. Ông đã làm thành nỏ, cái nỏ đấy có thể bắn ra hàng nghìn mũi tên chỉ trong một lần bắn (nhân dân gọi là nỏ thần). Nước Âu Lạc nhờ thế nên đã được sống trong thái hoà thịnh trị. Ta thấy rằng An Dương Vương quả là một vị minh quân, một người biết nhìn xa trông rộng, biết lo trước những mối lo của người đời.

Nhưng cũng chính vì thế cũng đã tạo nên tính tự mãn nơi ông. Lúc Đà sang cầu hôn, ông đã đồng ý gả con gái mình cho đàn ông Đà là Trọng Thủy. Cuộc hôn nhân giữa hai nước vốn đã có xích mích là sự dự đoán cho những mối hiểm họa về sau.

“Một vài kẻ Việt người Tàu
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương”

“Một vài kẻ Việt người Tàu” lấy nhau như thế là một sự nguy hiểm khôn lường. Thế nhưng An Dương Vương ko hề màng tới điều đó. Có nhẽ ông chỉ mong hai nước sớm thuận hòa qua cuộc hôn nhân này và nhân dân sẽ ko phải chịu cảnh khổ đau. Nhưng ông ko biết được, quân địch dù quỳ dưới chân ta thì chúng vẫn vô cùng nguy hiểm. Ông nghĩ cho dân, nghĩ tới cái lợi trước mắt nhưng lại ko nghĩ tới những điều nguy hiểm sắp tới. Vì thế, ông đã đưa cả cơ đồ “đắm biển sâu”.

Sự tự mãn là bạn đồng hành của thất bại. Có nỏ thần trong tay, An Dương Vương dường như đã nắm chắc phần thắng trong tay. Đỉnh điểm là lúc được báo Triệu Đà sang xâm chiếm thì ông “vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười nhưng nói rằng: ‘Đà ko sợ nỏ thần sao?’” Ông đã bước vào vết xe đổ của người xưa, để rồi lúc nguy cấp nhất, ông mới lấy nỏ thần ra bắn và biết là nỏ giả, liền dắt con gái bỏ chạy về phương Nam. Trong lúc cấp bách, ông chỉ biết mỗi việc bỏ chạy chứ ko còn cách đối kháng nào khác. Lúc ra tới biển Đông, ông còn ko trông thấy được đâu là giặc, ông chỉ ngửa mặt kêu “trời” nhưng ko biết phải làm gì. Tới lúc thần Rùa Vàng hiện lên và nói: “Kẻ ngồi sau lưng chính là giặc đó!” thì ông đã rút gươm chém con gái của mình. Hành động dứt khoát, ko do dự đấy đã chứng minh ông là một vị minh quân. Ông đặt việc nước lên trên việc nhà, ko để việc riêng làm lung lay ý chí. Thần Rùa Vàng hay chính thái độ của nhân dân lao động đã bổ sung mọi khuyết thiếu cho ông. Lúc ông ko xây được thành, thần hiện lên giúp sức, lúc ông lo cho vận mệnh non sông, thần cũng hết sức chỉ bào ông và lúc này, lúc nguy cấp nhất, thần cũng hiện lên để giúp ông. Phải chăng đó là sự ngưỡng mộ, sự tha thứ cho một vị minh quân của nhân dân? Cụ thể “vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển” đã chứng minh điều đó. Đại dương đã mở rộng tấm lòng đón ông về. Những con sóng trôi dạt vào bờ lại bị bật ra năm nào liệu có còn nhớ hình ảnh hai cha con tội nghiệp?

Nếu như kì tích xây thành Cổ Loa là một thắng lợi vẻ vang mang tính huyền thoại thì sự thất bại lần này của An Dương Vương mang tính hiện thực thâm thúy. Và thảm kịch nước mất nhà tan đấy xuất phát từ mối tơ duyên của Mị Châu và Trọng Thủy. Mị Châu là con An Dương Vương, là vợ Trọng Thủy và là con dâu của Triệu Đà. Nàng rất thơ ngây, yêu Trọng Thủy với một tình yêu trong sáng của con gái. Nàng đã trao cho Trọng Thủy tất cả trái tim mình. Mấu chốt chính là lúc nàng chỉ cho Trọng Thủy xem nỏ thần. Nỏ thần là bí mật quốc gia, là việc đại sự, thế nhưng nàng lại “vô tư” tới mức đưa cho Trọng Thủy xem. Nàng u mê, ngu tối tới mức nhầm lẫn giữa “tình nữ nhi” và “việc quân vương”. Còn gì đau xót hơn chăng? Nếu xét về khía cạnh một người vợ thì Mị Châu là một mẫu hình lí tưởng cho chữ “tòng” thời đấy. Nhưng ko chỉ là một người vợ, Mị Châu còn là công chúa của nước Âu Lạc. Lúc đã tráo được nỏ thần, Trọng Thủy biện cớ về thăm cha. Trước lúc đi, chàng nói với Mị Châu: “Tình vợ chồng ko thể quên lãng, nghĩa mẹ cha ko thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như tới lúc hai nước thất hòa, Bắc Nam xa cách, ta lại tìm nàng, lấy gì làm dấu?”. Câu nói đầy hàm ý của Trọng Thủy thế nhưng Mị Châu ko trông thấy. Nàng yêu Trọng Thủy tới mức còn ko thèm đặt ra câu hỏi vì sao hai nước phải thất hòa, vì sao Bắc Nam phải xa cách trong lúc ta đã là “người một nhà”. Nàng chỉ hướng về hạnh phúc lứa đôi, mong tới ngày sum họp: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh li biệt thì đớn đau khôn xiết. Thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi tới đâu sẽ rứt lông nhưng rắc ở ngã ba đường để làm dấu, tương tự sẽ có thể cứu được nhau”. Câu nói của Mị Châu là lời nói của một người bà xã chồng tha thiết. Nhưng nàng ko biết rằng hành động của nàng đã cho Triệu Đà thắng lợi vua cha, cho Trọng Thủy đuổi theo giết mổ cha mình.

“Lông ngỗng rơi trắng đường chạy nạn
Những chiếc lông ko tự biết giấu mình”

Lúc bị giặc truy đuổi, Mị Châu đã mặc chiếc áo lông ngỗng trên mình. Chiếc áo hóa trang lông ngỗng là y phục của người phụ nữ Việt xưa trong những dịp lễ hội. Thế nhưng Mị Châu lại mặc nó vào lúc nguy cấp như thế này. Điều đó cho thấy nàng đã ko còn lí trí sáng suốt nữa. Mọi hành động của nàng đều bị tình cảm vợ chồng chi phối. Trước lúc bị vua cha chém đầu, nàng đã nói: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ trở thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu nhưng bị người lừa dối thì chết đi sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù”. Nàng đã trông thấy được chân tướng sự việc, rằng người nàng đã yêu, đã tin tưởng lâu nay nay chỉ là kẻ lừa bịp. Cái chết của Mị Châu là sự hóa thân ko trọn vẹn, xác trở thành ngọc thạch, máu trở thành châu ngọc. Điều đó cho thấy sự thông cảm của nhân dân ta với Mị Châu, một người đã “vô tình” đưa nước Việt vào một nghìn năm nô lệ.

Ba nhân vật, ba số phận, ba vai diễn đều do Triệu Đà đứng phía sau làm đạo diễn. Nhưng có nhẽ, vai diễn của Trọng Thủy là khó khăn nhất. Chàng phải hóa thân thành nhiều vai, mỗi vai một tính cách không giống nhau, yêu cầu ở con người ta phải có tài năng diễn xuất kiệt xuất. Trước mặt An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy đeo chiếc mặt nạ là một người con rể, một người chồng hết sức mến thương vợ. Nhưng chiếc mặt nạ còn lại Trọng Thủy giấu vào trong bóng tối. Chàng diễn hay tới mức ko người nào có thể trông thấy. Lời chàng nói với Mị Châu lúc từ biệt, những hành động âu yếm của chàng đối với Mị Châu cho ta thấy chàng là một người đàn ông mẫu mực. Thế nhưng tất cả đã hoàn toàn sụp đổ lúc ta trông thấy được mưu mô của chàng. Cuối truyện, Trọng Thủy cũng ko thể nào sống yên cùng với những vinh hoa phú quý nhưng mình chiếm được. Tâm trạng chàng rất dằn vặt. Có nhẽ trước lúc thực hiện mưu đồ đấy, chàng cũng đã đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Nhưng suy cho cùng chàng cũng là thân phận người Tàu, là đàn ông Triệu Đà và là nạn nhân của trận đánh tranh phi nghĩa. Chàng đã hết lòng trung thành với cha. Nhưng cụ thể chàng nhảy xuống giếng vì tưởng nhớ Mị Châu đã cho ta một cách nhìn khác về nhân vật này. Chàng đã gài một cái bẫy giúp cha mình, một cú lừa ngoạn mục để rồi chàng cũng chính là nạn nhân của cái bẫy đấy. Người đời sau mò được ngọc ở biển Đông lấy nước giếng này rửa thì thấy ngọc sáng thêm. Phải chăng Mị Châu đã tha thứ cho Trọng Thủy? Nhưng tin chắc rằng nàng sẽ ko ngu tối nữa, vì lời nguyền của nàng là sẽ “rửa sạch mối nhục thù” chứ ko cầu mong gì thêm. Ngọc sáng đã minh chứng cho tình yêu, lòng thủy chung và sự trong sáng, vô tội của nàng.

Ko như cổ tích, cái kết luôn có hậu cho mọi người. Truyền thuyết buộc ta phải suy ngẫm thật nhiều sau đó. Chúng ta phải biết đặt cái chung lên trên cái riêng, nhất là phải cảnh giác, đừng như An Dương Vương “nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà”. Và trong tình yêu phải xoành xoạch sáng suốt, đừng nên lầm đường lạc lối để rồi phải trả một cái giá quá đắt như Mị Châu. Truyện vừa mang tính triết lí vừa thấm đậm ý vị nhân sinh như Tố Hữu trong “Tâm tình” đã nói:

“Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi đầu cụt nên tượng càng rất sống
Cái đầu cụt gợi nhớ dòng tính nóng
Hai nghìn năm dưới đá vẫn tuôn trào
Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu
Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
Nhưng nhắc sao được hai nghìn năm trước
Nên em ơi ta đành tự nhắc mình”.

Cành lá

3. Truyền thuyết nhắc nhở chúng ta đừng có mơ hồ

An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy là một truyền thuyết bi tráng nhất. Ý nghĩa lịch sử của nó xoành xoạch mới mẻ đối với dân tộc Việt Nam, non sông Việt Nam chúng ta trong bất kỳ thời đại lịch sử  nào. Bài học về cảnh giác với quân địch trong sự nghiệp giữ nước cũng suy ngẫm, cũng thấy đau xót và thấm thía.

Xây thành ốc, chế nỏ thần là kì công của An Dương Vương. Tướng Cao Lỗ với kì công làm nỏ, lấy vuốt rùa thần làm lẫy ko bao giờ phai mờ trong tâm hồn nhân dân và lịch sử của dân tộc. Thần Kim Quy là nhân vật huyền thoại xuất hiện đầu – cuối truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy đã tô đậm yếu tố thần kì, huyền diệu trong kì tích yểm trừ yêu quái để xây dựng Loa Thành, để chế nỏ thần Kim Quy, và việc vạch mặt chỉ tên: Kẻ nào ngồi sau ngựa chính là giặc đó.

Nỏ thần Kim Quy thật vô cùng lợi hại. Lúc Triệu Đà từ phương Bắc đem quân sang cướp phá nước Âu Lạc, An Dương Vương đã lấy nỏ thần ra bắn chết hàng vạn tên giặc, quân Triệu Đà thua to, chạy về Trâu Sơn, ko dám đối chiến, xin giảng hòa.

Có thành cao, hào sâu, lại có nỏ thần linh nghiệm, nhà vua còn lo gì nữa? Việc An Dương Vương nhận lời cầu hôn của họ Triệu Phương Bắc – quân địch mới năm nào từng mang quân sang xâm lược nước mình, thảm sát nhân dân mình, việc An Dương Vương còn cho Trọng Thủy – đàn ông Triệu Đà ở rể, hành động đấy cho thấy nhà vua Âu Lạc đã mất cảnh giác cao độ, đúng là nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà.

Nỏ thần là bí mật quốc gia, nhưng làm sao nhưng An Dương Vương và Triều đình nước Âu Lạc lại để cho Mị Châu biết tới, để người con gái lá ngọc cành vàng đem cho Trọng Thủy xem trộm. Thậm chí tới lức kẻ gian tế ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt Rùa Vàng nhưng nhà vua cũng chẳng hay biết gì. Và lúc Trọng Thủy trộm cắp được lẫy nỏ thần đem về nước, Triệu Đà lại đem quân sang xâm lược Âu Lạc, cảnh non sông lâm nguy, nhưng An Dương Vương vẫn điềm nhiên đánh cờ, tự mãn cười lên giọng: Đà ko sợ nỏ thần sao?. Còn gì đáng trách hơn là lúc cha con Triệu Đà mang quân sang, tiến sát kinh thần Cổ Loa thì vua Âu Lạc mới cầm lấy nỏ thần bắn, và lúc thấy nỏ thần ko linh nghiệm nữa bèn bỏ chạy. Bị giặc là chàng rể truy kích tới đường cùng. An Dương Vương mới kêu to: Trời hại ta, thần Kim Quy ở đâu, mau lại cứu. Đâu phải Trời hại. Cảnh thành vỡ nước tan, núi xương sông máu dưới vó ngựa xâm lược của cha con Triệu Đà, thảm kịch đấy là do An Dương Vương mất cảnh giác và chủ quan khinh địch.

Sau lúc nghe Rùa Vàng hiện lên thét lớn: Kẻ ngồi sau lưng là giặc đó thì nhà vua mới tỉnh ngộ, hiểu ra cơ sự và chỉ còn biết tuốt kiểm chém Mị Châu. Cái chết của nhà vua đâm đầu xuống biển, ôm theo mối thù hận, đau buồn thiên thu đã được người kể chuyện bao phủ một lớp sương mờ huyền thoại: Vua cầm sừng tê bảy tấc. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Nhà vua phải là người chịu trách nhiệm nặng nề trước lịch sử. Nhưng qua truyền thuyết, nhân dân ta đã dành cho An Dương Vương một tình thương, vừa thẩm định công lao dựng nước xây Loa Thanh, chế nỏ thần, vừa thông cảm cho tẩm lòng thành thực của người đứng đầu nước Âu Lạc trong việc bang giao với phương Bắc, ko muôn chiến tranh. Ý định thật tâm đấy đã bị quân thù tham lam, nham hiểm lợi dụng gây nên thảm họa cho non sông, thảm kịch cho gia đình. Cái chết của An Dương Vương là một hình phạt. Rùa Vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển là tình thương.

Với Rùa Vàng thì Mị Châu là giặc, một thứ giặc đang ngồi sau lưng nhà vua. Với An Dương Vương thì Mị Châu là kẻ trọng tội, gây nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu  nên phải chém. Vì thơ ngây và quá tin yêu chồng, nhưng nàng đã cho Trọng Thủy xem trộm nỏ thần, và để hắn trộm cắp lẫy nỏ thần. Vì thơ ngây và quá tin yêu Trọng Thủy nhưng Mị Châu đã rắc lông ngỗng trên đường chạy giặc, để cha con Triệu Đà thúc quân truy kích An Dương Vương tới tận bờ biển phương nam đất Dạ Sơn, tổng Cao Xá, phủ Diễn Châu. Lời khấn của Mị Châu trước lúc bị vua cha chém chết cho thấy nàng đã bị lừa dối. Đó cũng là mối hận nghìn đời: Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ trở thành cát bụi. Nếu một lòng trung hiếu nhưng bị người lừa dối thì chết đi sẽ trở thành châu ngọc để rửa sạch mối nhục thù. Mị Châu chết đi đã hóa thành ngọc. Máu nàng được các loài trai dưới biển hút, nên mới có ngọc trai. Sự thân hóa kiếp đấy là một minh chứng nàng là cô gái một lòng trung hiếu nhưng bị lừa dối. Dù thơ ngây, dù vô tình, Mị Châu là kẻ có tội đối với non sông Âu Lạc và đối với vương phụ. Dù có tội, nhưng nàng thật đáng thương. Mị Châu trở thành ngọc trai nghìn năm sáng mãi là cách nhìn nhận đầy tình nhân, nhân hậu đôi với nàng. Sự phán xét của lịch sử và của nhân dân thật nghiêm khắc và công bình.

Hơn hai nghìn năm đã trôi qua, người đọc truyền thuyết vẫn cảm thây sợ hãi và kinh tởm đối với Trọng Thủy. Vị phò mã của An Dương Vương, người chồng yêu quý của Mị Châu là một tên gián điệp, một tên lừa đảo, một tên trộm cắp. Hắn còn là một kẻ đầy tham vọng, muốn biến Âu Lạc thành quận huyện của phương Bắc. Việc Trọng Thủy lao đầu xuống giếng là một hành động hối lỗi, sám hối, hay đó là sự trừng trị nghiêm khắc, một sự báo thù nhãn tiền.

Tình tiết ngọc trai đem rữa nước giếng Trọng Thủy nơi cổ Loa sẽ sáng thêm đã làm sáng tỏ tâm lòng trung hiếu của người con gái Âu Lạc đã bị lừa dối.

Nhiều thi sĩ đã viết về truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy. Thi sĩ Tản Đà đã để lại vần thơ ngậm ngùi:

Hạt châu giếng nước nghìn năm khói nhang

Truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy nhắc nhở chúng ta đừng có mơ hồ.

Cành lá

Tham khảo thêm: Cảm nhận về nhân vật An Dương Vương

Trên đây là những nội dung tham khảo được https://chinphu.vn/ biên soạn. Chúc bạn hoàn thành tốt bài làm văn cảm nhận truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy của mình.

Đăng bởi: https://chinphu.vn/

Phân mục: Giáo dục

[rule_{ruleNumber}]

#Cảm #nhận #truyện #Dương #Vương #và #Mị #Châu #Trọng #Thủy

[rule_3_plain]

#Cảm #nhận #truyện #Dương #Vương #và #Mị #Châu #Trọng #Thủy

[rule_1_plain]

#Cảm #nhận #truyện #Dương #Vương #và #Mị #Châu #Trọng #Thủy

[rule_2_plain]

#Cảm #nhận #truyện #Dương #Vương #và #Mị #Châu #Trọng #Thủy

[rule_2_plain]

#Cảm #nhận #truyện #Dương #Vương #và #Mị #Châu #Trọng #Thủy

[rule_3_plain]

#Cảm #nhận #truyện #Dương #Vương #và #Mị #Châu #Trọng #Thủy

[rule_1_plain]

Nguồn:chinphu.vn
Phân mục: Tin tức

#Cảm #nhận #truyện #Dương #Vương #và #Mị #Châu #Trọng #Thủy

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button